Giới thiệu chung
Đoàn Đại biểu Quốc hội
Hội đồng nhân dân
LIÊN KẾT WEB
Thống kê truy cập
Lượt truy cập: 567,135
Đang trực tuyến: 108
 
Đoàn Đại biểu Quốc hội >> Hoạt động tại kỳ họp QH
(Đăng lúc: 09/06/2017 04:12:40 PM)
Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ngãi tham gia thảo luận Luật Thủy lợi
Ảnh: Đại biểu Đinh Thị Phương Lan phát biểu tại Hội trường
Trong phiên thảo luận tại hội trường (ngày 08/6), đại biểu Đinh Thị Phương Lan (tỉnh Quảng Ngãi) đã tham gia thảo luận nhiều nội dung của dự thảo Luật Thủy lợi.

Đại biểu đồng tình với báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật. Đặc biệt, dự thảo quy định, điều chỉnh nhiều nội dung quan trọng, như: Quy hoạch, Đầu tư xây dựng công trình, Quản lý khai thác công trình, Dịch vụ, Bảo vệ công trình thủy lợi… Đồng thời tham gia góp ý một số ý kiến cụ thể:

– Về Chính sách của nhà nước trong hoạt động thủy lợi (Điều 5): Dự thảo quy định nhiều nội dung quan trọng liên quan đến chính sách của nhà nước với hoạt động thủy lợi, như: Ưu tiên đầu tư các công trình thủy lợi; Ưu đãi thuế với tổ chức, cá nhân quản lý, khai thác công trình thủy lợi; Hỗ trợ nâng cấp hệ thống thủy lợi… Tuy nhiên, các chính sách này chủ yếu hỗ trợ đối tượng đầu tư, khai thác công trình thủy lợi, chưa thể hiện rõ nét chính sách hỗ trợ đối với nhóm đối tượng là cư dân bị ảnh hưởng bởi dự án, như: Khoản 5 quy định “Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho người làm thủy lợi” nhưng chưa phải đề cập trực tiếp nhóm đối tượng là cư dân bị ảnh hưởng bởi các công trình phục vụ thủy lợi.

- Hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm, dịch vụ công ích thuỷ lợi (Điều 37): Đối tượng hỗ trợ mới tập trung ở hộ nghèo, cận nghèo, hỗ trợ một phần cho cá nhân, hộ gia đình trồng cây lương thực và làm muối, trồng rau màu, nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi nhưng chưa trực tiếp hỗ trợ cho cư dân chịu tác động trực tiếp từ dự án. Thực tế cư dân vùng dự án sẽ được hưởng lợi từ đầu tư cho các dự án như: phát triển du lịch cộng đồng, phát triển cơ sở hạ tầng, trường trạm… nhưng đối với các công trình hồ đập thủy điện, hồ đập phục vụ thủy lợi, bên cạnh những lợi ích có được từ công trình thì cư dân vùng dự án còn chịu những tác động tiêu cực lâu dài nhất định. Vì vậy, cần được quy định rõ các chính sách và đối tượng hỗ trợ vào trong luật nhằm luật hóa những chính sách, nguồn lực mà nhà nước vẫn đang thực thi trong nhiều năm qua.

 - Về nguyên tắc và căn cứ định giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi (Điều 35): Đại biểu thống nhất với quy định về: “Giá sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi đảm bảo bù đắp chi phí quản lý, vận hành, bảo trì, chi phí thực tế hợp lý khác và lợi nhuận phù hợp với mặt bằng giá thị trường; Giá sản phẩm, dịch vụ khác gồm chi phí quản lý, vận hành, bảo trì và chi phí khấu hao cơ bản, chi phí thực tế hợp lý khác và lợi nhuận phù hợp với mặt bằng thị trường. Căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, Bộ Tài chính quy định chi phí khấu hao cơ bản đối với công trình thủy lợi được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước”. Quy định này tạo cơ sở cho việc định giá khá toàn diện, nhưng chưa thực sự tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân có cơ hội thuận lợi trong tiếp cận sản phẩm, dịch vụ thủy lợi ở các vùng có điều kiện địa kinh tế - xã hội khác nhau, như: Điều kiện địa hình, kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc sẽ khác đồng bằng Bắc Bộ, khu vực Trung Bộ, đồng bằng Nam Bộ; việc tiếp cận sản phẩm, dịch vụ thủy lợi đối với hệ thống thủy lợi miền núi sẽ khác với hệ thống đại thủy nông ở đồng bằng hay hệ thống thủy lợi vùng Tây nguyên.

Qua thực tiễn giám sát chính sách hỗ trợ trực tiếp đối với đối tượng thụ hưởng chính sách nổi lên vấn đề cấp thiết là chính sách chưa phù hợp với đặc thù vùng miền. Thủy lợi lại là một ngành kinh tế tổng hợp gắn nhiều với điều kiện địa hình địa mạo nơi có công trình cung cấp sản phẩm, dịch vụ thủy lợi. Do đó, đại biểu đề nghị cần bổ sung nguyên tắc định giá có tính đến điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, từng vùng. Ngoài ra, cấu phần hình thành giá nên tính đầy đủ các yếu tố chi phí đầu vào có lộ trình, trong đó có phí tổn do tác động lâu dài đến cư dân vùng dự án nhằm tạo nguồn trích lập hỗ trợ an sinh vùng dự án, góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

- Về thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng (Điều 51): Đại biểu đề nghị nêu rõ quy định về “người sử dụng sản phẩm, dịch vụ thủy lợi chịu trách nhiệm đầu tư xây dựng công trình thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng” để xác định đúng đối tượng là người sử dụng sản phẩm, dịch vụ thủy lợi phải chi trả theo giá sản phẩm, dịch vụ thủy lợi chứ không phải là người trực tiếp đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng.

 - Về quyền, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư trong hoạt động thủy lợi (Điều 55): Đồng tình với việc xác lập quyền, trách nhiệm của cộng đồng dân cư trong hoạt động thủy lợi; vai trò của cộng đồng dân cư trong việc giám sát, quản lý, đặc biệt duy tu bảo dưỡng, khai thác hiệu quả các công trình đầu tư. Dự thảo đã quy định đầy đủ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong khai thác, sử dụng sản phẩm, dịch vụ thủy lợi. Tuy nhiên, trong chiến lược phát triển thủy lợi, không thể không tính đến việc nuôi dưỡng nguồn nước nhằm phát huy vai trò của cộng đồng dân cư trong hoạt động thủy lợi. Vì vậy, đại biểu đề nghị dự thảo bổ sung quy định về quyền, trách nhiệm của cộng đồng dân cư; quyền, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân, cư dân sống ở đầu nguồn nước, hồ thủy lợi, hồ thủy điện phục vụ công trình thủy lợi.

Ngoài ra, đại biểu đã đề nghị bổ sung nội dung quy hoạch thủy lợi phải phù hợp với luật quy hoạch thủy điện, trong đó có công trình thủy lợi và hồ đập thủy điện phục vụ thủy lợi.


 

Hoàng Tân
Xem tin theo ngày tháng:
Ngày Tháng Năm
 
THÔNG BÁO
HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG
 NGHỊ QUYẾT HĐND TỈNH
VIDEO
Tin xem nhiều
Thăm dò ý kiến
Bạn thấy giao diện website này như thế nào?
Rất đẹp
Đẹp
Bình thường
Xấu