Giới thiệu chung
Đoàn Đại biểu Quốc hội
Hội đồng nhân dân
LIÊN KẾT WEB
Thống kê truy cập
Lượt truy cập: 743,571
Đang trực tuyến: 40
 
Tin tức - sự kiện >> Trao đổi - Học tập
(Đăng lúc: 17/12/2020 09:52:46 AM)
Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, thực trạng và giải pháp
Tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XX; Sở Lao động, Thương binh và Xã hội đã thông tin về thực trạng và đề ra giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh, như sau:

Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo nghề, thực hiện các giải pháp đột phá mạnh mẽ gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu thị trường lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế là mục tiêu xuyên suốt những năm qua. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng xác định “đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” là một trong ba đột phá chiến lược; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX đặt ra nhiệm vụ đột phá là “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tập trung đào tạo nghề và giải quyết việc làm”. Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ ba khóa XIX đã ban hành Kết luận số 17-KL/TU ngày 19/4/2016 về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị và phục vụ sản xuất kinh doanh giai đoạn 2016-2020; UBND tỉnh đã tham mưu HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 11/2018/NQ-HĐND ngày 13/7/2018 về quy định chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

Dân số tỉnh Quảng Ngãi khoảng 1.231,9 nghìn người. Lực lượng lao động tham gia hoạt động kinh tế gần 741,2 nghìn người (chiếm 60,16% dân số), trong đó nữ chiếm khoảng 60%; tỷ lệ lao động đã qua đào tạo là 58,42% (năm 2015 là 47,45%), trong đó có văn bằng, chứng chỉ là 22,18% (năm 2015 là 17,45%). Bình quân số lao động có việc làm tăng thêm là 7.896 người/năm. Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị là 3,5%. Tỷ lệ lao động trong ngành nông nghiệp: 45,58%. Hàng năm có khoảng 60 - 70 nghìn lao động từ 15 tuổi trở lên chuyển đi các tỉnh, thành để làm việc và học tập (chiếm khoảng 75,8% số người chuyển đi), nhất là TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam. Trong nhiệm kỳ qua, vượt qua nhiều khó khăn, thách thực, tỉnh ta đã chủ động, đáp ứng tốt nhất nhu cầu nhân lực cho nền kinh tế, nhất là cung ứng lao động cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư tại Khu Kinh tế Dung Quất, Khu Công nghiệp VSIP Quảng Ngãi, các Khu Công nghiệp của tỉnh, điển hình như dự án thép Hòa Phát - Dung Quất trong 03 năm (từ 2017 đến tháng 10/2020) đã tuyển dụng 9.941 người, trong đó lao động Quảng Ngãi 7.798 người, chiếm 78,5%.

Tỉnh ta đã tiến hành rà soát, sắp xếp lại mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp (GDNN) theo hướng giải thể các cơ sở hoạt động không hiệu quả, sáp nhập một số trường công lập thuộc tỉnh quản lý. Đến ngày 30/9/2020, toàn tỉnh có 23 cơ sở giáo dục nghề nghiệp (giảm 14 cơ sở so với năm 2015 do sáp nhập, giải thể, ngừng hoạt động). Trong đó, có 15 cơ sở công lập và 08 cơ sở ngoài công lập, gồm: 06 trường cao đẳng, 04 trường trung cấp, 02 trung tâm giáo dục nghề nghiệp; 06 trung tâm GDNN - GDTX cấp huyện; 05 cơ sở đào tạo khác có tham gia dạy nghề. Hệ thống các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã phát triển đa dạng về loại hình và trình độ đào tạo, tạo nhiều cơ hội thuận lợi cho người có nhu cầu học nghề và cung cấp số lượng lớn nguồn nhân lực có chất lượng cho nền kinh tế. Số lượng cán bộ quản lý, giáo viên dạy nghề tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp là 649 người. Có trên 75% nhà giáo GDNN đạt chuẩn theo quy định. Cơ sở vật chất, thiết bị đã từng bước được đầu tư để đáp ứng yêu cầu đào tạo. Một số trường cao đẳng công lập được đầu tư trang thiết bị cơ bản đáp ứng yêu cầu chương trình đào tạo chất lượng cao. Chương trình, nội dung đào tạo luôn được điều chỉnh theo hướng thiết thực, phù hợp với đối tượng và tình hình thực tế nhằm phát triển năng lực người học, rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, kỹ năng khởi nghiệp, chú trọng giáo dục thể chất, nhân cách, đạo đức, lối sống của người học. Hợp tác quốc tế được chú trọng, qua đó, trình độ chuyên môn, năng lực của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý được nâng lên.

Trong giai đoạn 2016 - 2020, các cơ sở GDNN tuyển sinh được 51.986 HSSV, trong đó trình độ: cao đẳng, trung cấp là 14.392 người; sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng là 37.594 người. Số HSSV tốt nghiệp là 47.280 người, trong đó trình độ: cao đẳng, trung cấp là 10.805 người; sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng là 36.475 người. Tỷ lệ học sinh, sinh viên tốt nghiệp trình độ cao đẳng, trung cấp có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp đạt khoảng 85%.

 

Giáo viên Trường cao đẳng Kỹ nghệ Dung Quất hướng dẫn thực hành, đào tạo nghề học viên

Gắn kết với doanh nghiệp được xác định là khâu đột phá để đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Nhiều hoạt động gắn kết với doanh nghiệp đã được triển khai. Cơ chế phối hợp ba bên: Nhà nước - Nhà trường - Nhà doanh nghiệp đang bắt đầu hình thành và vận hành tốt trong thực tiễn. Nhiều doanh nghiệp chủ động cho sinh viên thực tập trực tiếp trên dây chuyền sản xuất; quá trình thực tập, các doanh nghiệp hỗ trợ tiền ăn, kinh phí vật tư cho sinh viên. Để thu hút, tuyển dụng lao động, một số doanh nghiệp đã chủ động đặt hàng, phối hợp với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp để tuyển sinh, hỗ trợ đào tạo và thực hiện nhiều chính sách ưu đãi đối với người học. Việc hợp tác với doanh nghiệp trong quá trình đào tạo nghề được thực hiện hầu hết tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Theo thống kê, số học sinh, sinh viên tốt nghiệp trình độ cao đẳng, trung cấp có việc làm ngay với mức lương khởi điểm bình quân từ 5,5 - 6,0 triệu đồng/tháng. Một số ngành, nghề có mức lương khá cao như nghề điện, hàn, bảo trì hệ thống thiết bị cơ khí..., với mức lương từ 10 - 15 triệu đồng/tháng. Việc gắn kết đào tạo nghề với doanh nghiệp đã góp phần lớn giải quyết việc làm và cung ứng lao động cho doanh nghiệp, nhà đầu tư tại Khu Kinh tế Dung Quất, Khu Công nghiệp VSIP, các Khu Công nghiệp của tỉnh..., góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, xây dựng nông thôn mới,...

Bên cạnh kết quả đạt được, khó khăn, hạn chế của đào tạo nghề là: Tuyển sinh đào tạo nghề gặp nhiều khó khăn, số lượng giảm dần qua các năm. Chất lượng học sinh đầu vào thấp. Cơ cấu và quy mô tuyển sinh chưa tương xứng với năng lực của hệ thống giáo dục nghề nghiệp và nhu cầu của thị trường lao động. Thiếu lao động có trình độ kỹ thuật để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp so với mặt bằng chung của cả nước, có sự chênh lệch lớn giữa các vùng miền trong tỉnh, đặc biệt là khu vực miền núi. Mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp còn nhiều bất cập, phân bố không đồng đều, ngành nghề và trình độ đào tạo trùng lặp, chồng chéo, chậm đổi mới; chất lượng, hiệu quả đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp chưa cao; các định mức chi phí đào tạo hỗ trợ cho từng nghề còn thấp nên ảnh hưởng chất lượng đào tạo.

Các hạn chế nêu trên chủ yếu xuất phát từ nguyên nhân đó là: Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp ủy, chính quyền thiếu quyết liệt; sự tham gia của các cơ quan, hội đoàn thể cơ sở đối với công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm còn chưa sâu sát, các giải pháp tổ chức thực hiện chưa hiệu quả; nhận thức của xã hội về giáo dục nghề nghiệp còn chưa đầy đủ; tâm lý coi trọng bằng cấp vẫn còn nặng nề; việc định hướng nghề nghiệp, phân luồng học sinh sau tốt nghiệp THCS, THPT chưa đạt mục tiêu đề ra. Một bộ phận lao động ở miền núi chưa thích nghi với môi trường lao động công nghiệp. Triển khai tự chủ đối với nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp còn chậm, nặng tư duy bao cấp. Hợp tác giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp còn hạn chế, thiếu tính bền vững; các cơ chế, chính sách khuyến khích liên kết chưa thật sự phát huy hiệu quả. Công tác dự báo và thông tin về cung - cầu, thị trường lao động chưa sát và kịp thời. Chưa có các giải pháp đủ mạnh và đồng bộ để tạo ra sự đột phá về chất lượng và quy mô đào tạo nghề.

Một góc Khu Công nghiệp Vsip Quảng Ngãi

Xác định phát triển nguồn nhân lực, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm là nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh ta trong giai đoạn tiếp theo. Đây được xem là một trong những nhân tố quan trọng, là lợi thế cạnh tranh, nâng cao năng suất lao động, thu hút đầu tư và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Nhiệm kỳ 2020-2025, mục tiêu tập trung phát triển công nghiệp, dịch vụ, du lịch và xây dựng nông thôn mới, với lợi thế là địa phương có cơ cấu lao động trẻ và khá dồi dào, tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên so với dân số khoảng 60%, trong xu thế đón sự dịch chuyển mạnh về đầu tư của các nước phát triển trên thế giới và sự cạnh tranh mạnh mẽ về thu hút đầu tư của các tỉnh, thành trong khu vực. Dự báo nhu cầu nhân lực cần phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh của tỉnh trung bình khoảng 6- 7 nghìn lao động/năm, tập trung chủ yếu vào lao động có trình độ đào tạo sơ cấp và trung cấp. Nhiều dự án lớn, với nhu cầu nhân lực tăng đột biến trong thời gian nhất định, do đó đòi hỏi cần có một chiến lược thích hợp để kịp thời đáp ứng nhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội.

Điều đó đặt ra, công tác đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cần tập trung mạnh vào các ngành nghề đào tạo phục vụ phát triển công nghiệp, cơ khí, điện năng, luyện kim, xây dựng, công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản, dệt may, điện tử, du lịch, quản trị, logistics, nông nghiệp chất lượng cao… nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các dự án lớn, tạo đột phá phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, trong đó Khu Kinh tế Dung Quất và các Khu Công nghiệp của tỉnh, Khu Công nghiệp VSIP là trụ cột trung tâm. Trong đó, tập trung thay đổi cách thức đào tạo theo hướng chủ động mở ra các kênh tiếp xúc với nhà đầu tư, doanh nghiệp để phân loại và xây dựng hệ thống thông tin về nhu cầu chất lượng nguồn nhân lực theo từng nhóm các nhà đầu tư và liên tục cập nhật, thay đổi theo xu thế đầu tư và phát triển công nghệ của thế giới, tập trung vào một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu như sau:

Một số nhiệm vụ trong thời gian đến:

Thứ nhất, hoàn thiện Đề án Quy hoạch mạng lưới cơ sở GDNN giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên cơ sở phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tiếp tục nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung các chính sách, nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước về GDNN; thúc đẩy xã hội hóa GDNN.

Thứ hai, tiếp tục đổi mới phương thức đào tạo nghề gắn liền với doanh nghiệp, chủ sử dụng lao động, khuyến khích doanh nghiệp, chủ sử dụng lao động tham gia hoạt động GDNN; tăng cường gắn kết GDNN với thị trường lao động và việc làm bền vững.

Thứ ba, nâng cao chất lượng đào tạo cả về quy mô và cơ cấu. Chuẩn hóa các điều kiện bảo đảm chất lượng trong hệ thống GDNN; đổi mới chương trình đào tạo theo định hướng năng lực thực hiện.

Thứ tư, chuẩn bị và thu hút nguồn nhân lực đảm bảo cả về chất lượng, số lượng và cơ cấu hợp lý để đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất, thu hút đầu tư, hội nhập quốc tế của tỉnh.

Đề ra các giải pháp trong thời gian tới:

Một là, tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành, hội đoàn thể và hệ thống chính trị đối với công tác đào tạo nghề theo tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Triển khai thực hiện tốt Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 28/5/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh phát triển nhân lực có kỹ năng nghề, góp phần nâng cao năng suất lao động và tăng năng lực cạnh tranh quốc gia trong tình hình mới.

Hai là, về cơ chế chính sách, tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 11/2018/NQ-HĐND ngày 13/7/2018 của HĐND tỉnh về Quy định chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn tiếp theo; điều chỉnh chi phí hỗ trợ đào tạo lao động quy định tại Quyết định số 36/2016/QĐ-UBND ngày 29/7/2016 của UBND tỉnh cho phù hợp với giai đoạn hiện nay. Rà soát, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp; đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm.

Ba là, đẩy mạnh công tác thông tin và tuyên truyền, tạo sự chuyển biến về nhận thức, sự đồng thuận và tham gia của toàn xã hội đối với việc đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp; nâng cao hiệu quả hoạt động hướng nghiệp trong các trường THCS, THPT và trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.                     

Bốn là, đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo gắn với doanh nghiệp, theo địa chỉ đặt hàng và thị trường lao động. Đào tạo thông qua đặt hàng của doanh nghiệp nơi người lao động được tiếp nhận vào làm việc. Xây dựng khung chương trình để người học và người sử dụng lao động tham gia chủ động vào đánh giá chất lượng đào tạo. Đẩy mạnh hình thức vừa làm, vừa học của người lao động trong các doanh nghiệp. Xây dựng và ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật cho một số ngành, nghề trong đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng và ban hành giá dịch vụ giáo dục nghề nghiệp để đặt hàng, giao nhiệm vụ đào tạo.

Năm là, nâng cao chất lượng hoạt động dự báo ngắn hạn, trung hạn và dài hạn về nhu cầu nguồn nhân lực, nhu cầu việc làm và nhu cầu đào tạo theo lĩnh vực, ngành nghề, cấp trình độ đào tạo. Nhất là dự báo nguồn nhân lực phục vụ sản xuất kinh doanh, thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế của tỉnh.

Sáu là, tăng cường chuyển đổi số và đào tạo trực tuyến, chú trọng đào tạo lại và đào tạo thường xuyên lực lượng lao động để tạo chuyển biến mạnh mẽ về quy mô, chất lượng và hiệu quả của giáo dục nghề nghiệp; bảo đảm người học có kỹ năng chuyên môn, kỹ năng số, kỹ năng mềm, kỹ năng khởi nghiệp và ngoại ngữ... thích ứng với yêu cầu của thị trường lao động. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, dạy và học.

Bảy là, tiếp tục rà soát, sắp xếp các cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo hướng giảm số lượng, tăng quy mô cơ sở giáo dục nghề nghiệp; bảo đảm cơ cấu và hợp lý về ngành nghề, trình độ đào tạo (đa ngành, chuyên ngành), chuẩn hóa, hiện đại hóa, có phân tầng chất lượng. Phát triển các trường cao đẳng, trung cấp có năng lực đào tạo đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật cao, phù hợp với chiến lược phát triển của ngành, địa phương. Phát triển các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tư thục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp của các tổ chức xã hội. Tập trung nguồn lực đầu tư một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp có ngành, nghề trọng điểm đã được quy hoạch theo các cấp độ (quốc tế, khu vực ASEAN và quốc gia) và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chuyên ngành, các nhóm đối tượng đặc thù, đào tạo cho lao động khi nhà nước thu hồi đất, lao động yếu thế. Đẩy mạnh tự chủ của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Tám là, quy hoạch và xây dựng hệ thống đơn vị dịch vụ việc làm có hiệu quả, đáp ứng công tác thu thập, xử lý thông tin, kết nối cung - cầu lao động, tư vấn và dự báo thông tin thị trường lao động. Phát triển thị trường lao động, thu hút nguồn lao động, đẩy mạnh liên kết vùng để nắm chắc nguồn nhân lực và nhu cầu đào tạo, cung ứng lao động từ nguồn lao động của các tỉnh, thành lân cận và nguồn nhân lực là người dân Quảng Ngãi đang làm việc ở các tỉnh, thành khác. Quan tâm đến các điều kiện để thu hút và đảm bảo đời sống của người lao động như các quyền lợi về lao động, tiền lương, thu nhập, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, nhà ở công nhân, các thiết chế văn hóa, các tiện ích xã hội phục vụ đời sống người lao động, các chính sách khuyến khích, hỗ trợ thu hút lao động.

Chín là, tiếp tục tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp để chuẩn hóa chương trình, giáo trình đào tạo, nâng cao trình độ cho đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý về giáo dục nghề nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề theo chuẩn khu vực ASEAN và quốc tế.

Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm là yêu cầu cấp thiết, có tính chiến lược trước mắt và lâu dài của tỉnh ta. Việc triển khai thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đề ra cùng với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự tham gia tích cực của doanh nghiệp và xã hội sẽ góp phần phát triển nguồn nhân lực, đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu và tăng năng suất lao động, phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của tỉnh.

Q.T

 

T.D
Xem tin theo ngày tháng:
Ngày Tháng Năm
 
THÔNG BÁO
HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG
 NGHỊ QUYẾT HĐND TỈNH
VIDEO
Tin xem nhiều
Thăm dò ý kiến
Bạn thấy giao diện website này như thế nào?
Rất đẹp
Đẹp
Bình thường
Xấu