In bài
Ban biên tập xin đăng tải các câu hỏi và kết quả trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri tại kỳ họp thứ 9, HĐND tỉnh khóa XI về lĩnh vực đền bù, tái định cư

4.1. Cử tri huyện Trà Bồng tiếp tục đề nghị tỉnh quan tâm chỉ đạo các ngành chức năng sớm khắc phục thực trạng về cơ sở hạ tầng khu tái định cư, cấp đất sản xuất  cho nhân dân thôn 4, xã Trà Thủy bị di dời, tái định cư để thi công thủy điện Hà Nang.

UBND huyện Trà Bồng trả lời như sau:

Dự án thủy điện Hà Nang được chấp thuận và triển khai xây dựng vào năm 2008 tại địa bàn thôn 4 và tổ 1, thôn 1 xã Trà Thủy với nhiều hạng mục: Hồ chứa nước Hà Nang, đập dâng Trà Cân, Nhà máy Thủy điện…công trình hoàn thành, bàn giao và đưa vào sử dụng vào năm 2010 đã làm cho diện mạo nông thôn cho huyện Trà Bồng nói chung và xã Trà Thủy nói riêng có nhiều khởi sắc đáng kể, góp phần tăng nguồn thu nhập cho ngân sách địa phương.

Tuy nhiên, do trong quá trình triển khai thực hiện dự án, việc đầu tư về cơ sở hạ tầng kỹ thuật về đường giao thông, hệ thống điện, các công trình thủy lợi và bố trí, quy hoạch đất sản xuất cho nhân dân tái định cư ổn định cuộc sống chưa được triển khai đồng bộ, điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân trong vùng dự án; đặc biệt dự án chưa tính đến phương án tái định canh nên làm cho cuộc sống của nhân dân nằm trong vùng dự án gặp nhiều thách thức, khó khăn như thực trạng cử tri đã phản ánh.

Trước những thực trạng bức xúc nêu trên, nhằm đáp ứng được nhu cầu về đất sản xuất, cơ sở hạ tầng ngày càng được cải thiện theo nhu cầu và nguyện vọng của nhân dân trong vùng dự án, góp phần ổn định và nâng cao chất lượng cuộc sống, tạo việc làm tăng thu nhập giúp nhân dân, thời gian qua các cấp ủy Đảng và chính quyền tỉnh, huyện đã ưu tiên tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đồng thời có nhiều giải pháp và việc làm cụ thể nhằm giúp cho nhân dân thoát khỏi đói nghèo và ổn định cuộc sống như:

I. Tình hình thực hiện:

1. Về chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất:

Trên cơ sở nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân, hằng năm phân bổ nguồn kinh phí để thực hiện hỗ trợ cho nhân dân trên địa bàn nhiều loại giống vật nuôi có năng suất, chất lượng và giá trị có đặc tính phù hợp với điều kiện khí hậu, thỗ nhưỡng nơi đây để nhân dân có điều kiện phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm; thực hiện hỗ trợ về kinh phí và gạo thông qua chính sách giao khoán quản lý, bảo vệ rừng. Hỗ trợ gạo, vật phẩm trong các dịp tết, các đợt mưa bão, các tháng thiếu lương thực….

Thường xuyên kêu gọi, vận động sự quan tâm, hỗ trợ của cộng đồng, các cơ quan, doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh cho nhân dân vùng dự án.

2. Về giải quyết đất sản xuất:

Thực hiện Thông báo kết luận số 139/TB-UBND ngày 13/6/2013 của UBND tỉnh bàn giải quyết đời sống cho các hộ dân tái đinh cư thuộc dự án Thủy điện Hà Nang, đồng thời để giải quyết vấn đề đất sản xuất cho nhân dân tổ 1, thôn 1 và thôn 4, xã Trà Thủy, các cấp, các ngành của huyện đã tổ chức nhiều đợt tiếp xúc và làm việc nhằm khảo sát, đánh giá thực trạng đời sống và xác định nhu cầu về đất sản xuất, đầu tư hệ thống hạ tầng, cơ sở của người dân dân nơi đây. Đồng thời huyện cũng đã chủ động phối hợp với các cơ quan, ban ngành chức năng của tỉnh tiến hành rà soát, điều chỉnh, bổ sung Quyết định số 871/QĐ-UBND ngày 23/4/2007. Qua đó, UBND huyện đã có văn bản đề nghị xin UBND tỉnh chuyển đổi 215,799 ha diện tích rừng và đất rừng quy hoạch chức năng phòng hộ, sản xuất tại tiểu khu 35, xã Trà Thủy chuyển sang mục đích khác nhằm tạo quỹ đất sản xuất để cấp phát cho nhân dân ổn định phát triển sản xuất. Song song với đó, ngày 23/8/2013 UBND huyện Trà Bồng tiếp tục có Tờ trình số 111/TTr-UBND đề nghị UBND tỉnh, các Sở ngành chức năng xin bổ sung vào thực hiện dự án Vlap cho phần diện tích đất đã chuyển sang đất ngoài lâm nghiệp tại tổ 1, thôn 1 và thôn 4, xã Trà Thủy nêu trên.

3. Về thực hiện đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong vùng dự án:

Trên cơ sở Quyết đinh số 182/QĐ-UBND ngày 01/8/2013 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc giao nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư năm 2013, UBND huyện Trà Bồng đã xây dựng Dự án đầu tư Tái định canh thôn 1 và thôn 4, xã Trà Thủy hiện đang chờ cấp tỉnh phê duyệt gồm các nội dung:

a) Hợp phần Thủy lợi:

- Hạng mục Núi Rơm: Gồm cụm đầu mối, cống xả cát, cống lấy nước, kênh và công trình trên kênh với tổng chiều dài tuyến kênh 1.281,72 m và san ủi cải tạo đồng ruộng diện tích 18 ha (10ha lúa + 8ha màu).

- Hạng mục P.Rơng: Gồm cụm đầu mối, cống xả cát, cống lấy nước, kênh và công trình trên kênh với chiều dài tuyến 620 m và san ủi cải tạo đồng ruộng diện tích 4 ha.

- Hạng mục Thủy lợi Nước Dút: Trên cơ sở Công trình đã được phê duyệt, trong dự án này đầu tư kéo dài tuyến kênh thêm 300m và san ủi cải tạo mở rộng khu tưới thêm 3ha, nâng tổng diện tích tại khu tưới Nước dút từ 4ha lên thành 7 ha.

b) Hợp phần giao thông:

Để thuận tiện trong việc đi lại canh tác, cũng như vận chuyển nông sản từ các khu canh tác về nơi ở, UBND huyện đã có văn ản trình UBND tỉnh, Sở KH-ĐT dự án thực hiện đầu tư tuyến đường giao thông nông thôn – loại B từ điểm đầu kênh thông hồ thuộc dự án thủy điện Hà nang vào đến khu canh tác Núi Rơm với chiều dài tuyến 4.994 m, bề rộng nền đường 4m.

c) Hợp phần điện:

Dự kiến đầu tư các hạng mục gồm đường dây trung thế 22kV với chiều dài đường dây xay dựng dựng mời 8.143m; 02 trạm biến áp và các tuyến đường dây hạ thế cấp điện cho khu dân cư với tổng chiều dài tuyến 1.005 m. Hiện nay UBND tỉnh đã thống nhất chủ trương cho triển khai thực hiện đầu tư dự án đường diện cho nhân dân thôn 4 nhằm tạo điều kiện cho nhân dân có điện sinh hoạt.

Ngoài ra, huyện cũng đã chỉ đạo các ngành chuyên môn thực hiện hỗ trợ, chuyển giao các tiến bộ khoa học – kỹ thuật vào trong sản xuất nông nghiệp đối với tất cả các diện tích đã khai hoang. Áp dụng các mô hình nông lâm kết hợp, mở rộng diện tích sản xuất lúa nước, tăng năng suất cây trồng nhằm giải quyết an ninh lương thực cho nhân dân vùng dự án. Đồng thời vận động nhân dân tiếp tục canh tác các loại cây ngắn ngày (lúa, ngô, đậu xanh) đối với các phần đất trước đây đã thu hồi, nhưng hiện tại không bị ngập nước.

II. Một số đề xuất, kiến nghị :

1. Đối với cấp tỉnh :

- Sớm tham mưu UBND tỉnh chuyển đổi 215,799 ha diện tích rừng và đất rừng quy hoạch chức năng phòng hộ, sản xuất tại tiểu khu 35, xã Trà Thủy chuyển sang mục đích khác nhằm tạo quỹ đất sản xuất để cấp phát cho nhân dân ổn định phát triển sản xuất đồng thời thống nhất bổ sung vào thực hiện dự án Vlap cho phần diện tích đất đã chuyển sang đất ngoài lâm nghiệp tại tổ 1, thôn 1 và thôn 4, xã Trà Thủy (nêu trên) để địa phương có cơ sở triển khai thực hiện.

- Sở Kế hoạch và Đầu tư sớm thẩm định dự án đầu tư xây dựng công trình Dự án: Tái định canh thôn 1 và thôn 4, xã Trà Thủy, huyện Trà Bồng để địa phương có cơ sở triển khai thực hiện.

- Đề nghị UBND tỉnh làm việc với Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Thiên Tân để rà soát lại các nội dung trong dự án chưa triển khai thực hiện để tiếp tục thực hiện cho nhân dân theo đúng tinh thần nội dung dự án đã được duyệt, hàng năm chủ động bố trí một phần kinh phí để thực hiện cứng hóa tuyến đường từ Nhà máy lên lòng hồ thủy điện Hà Nang nhằm góp phần đảm bảo an toàn trong công tác PCLB và TKCN đối với hồ chứa Thủy điện Hà Nang vừa góp phần ổn định việc đi lại cho nhân dân vùng dự án;

2. Về góc độ huyện :

Trong khi chờ có ý kiến thống nhất của cấp trên về việc thống nhất điều chỉnh các diện tích rừng phòng hộ; UBND huyện tập trung tăng cường công tác tuyên truyền, vận đồng các hộ dân vùng dự án nói riêng và trên địa bàn quản lý nói chung tuyệt đối không chặt phá, xâm chiếm trái phép rừng và đất rừng phòng hộ để canh tác nương rẫy và khai thác gỗ rừng trái pháp luật.

Kêu gọi sự hỗ trợ đầu tư của, đồng thời tập trung nguồn lực nhằm giải quyết những khó khăn trước mắt (như tập trung nguồn vốn phát triển sản xuất từ chương trình 30a, 135, nguồn tăng thu ngân sách từ nguồn thu của nhà máy thủy điện Hà Nang để tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất cho các hộ dân vùng dự án).

4.2. Cử tri huyện Mộ Đức phản ánh trong quá trình thi công hệ thống kênh sông Thoa, đơn vị thi công đã gây bồi lấp hệ thống thoát nước dẫn đến ngập úng gây thiệt hại lúa vụ Đông Xuân ở xã Đức Minh và Đức Phong. Đề nghị tỉnh chỉ đạo Công ty Khai thác công trình thủy lợi Quảng Ngãi hỗ trợ kinh phí cho nhân dân có diện tích lúa bị thiệt hại.

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trả lời:

Ruộng lúa dọc sông Thoa thuộc địa bàn 2 xã Đức Minh và Đức Phong, huyện Mộ Đức có nhiều khu vực trũng nằm dọc trục tiêu chính sông Thoa. Do hệ thống sông Thoa khi chưa được nâng cấp, hoàn thiện nếu có trận mưa lớn trên địa bàn huyện Mộ Đức thường gây ngập úng, đặc biệt ở vụ Đông Xuân.

Trong vụ Đông Xuân 2012 - 2013, do không có lũ lớn đủ đẩy trôi cây Lục Bình và cây Mai Dương trong khu tưới vùng trũng xã Đức Minh và Đức Phong nên tình trạng bèo Lục Bình và cây Mai Dương phát triển dày đặc trên sông Thoa gây ách tắt dòng chảy, ảnh hưởng đến nhiệm vụ tiêu úng của sông Thoa.

Ngoài ra, trong vụ Đông Xuân năm 2012-2013, Dự án Tiêu úng, thoát lũ, chống sạt lỡ vùng hạ lưu sông Thoa thuộc địa bàn huyện Mộ Đức có 02 gói thầu (gói 16 và 17) đơn vị thi công chỉ mới triển khai thi công sửa chữa phần đê cũ nên ít có tác động gây bồi lấp hệ thống thoát lũ dẫn đến ngập úng, gây thiệt hại lúa vụ Đông Xuân ở xã Đức Minh và Đức Phong như cử tri nêu.

Thời gian tới, Sở Nông nghiệp và PTNT sẽ chỉ đạo Công ty TNHH MTV Khai thác CTTL Quảng Ngãi yêu cầu các đơn vị thi công tổ chức thi công đồng bộ các khối lượng nạo vét trục tiêu chính cùng lúc với khối lượng đắp đê để tiêu nhanh nước, hạn chế tình trạng ngập úng cục bộ khi có mưa trong vụ sản xuất.

4.3. Cử tri huyện Sơn Tịnh phản ánh Dự án thăm dò khai thác và tuyển quặng Graphit tại mỏ Hưng Nhượng của Công ty TNHH Nobel và dự án khai thác khoáng sản, Dự án tái định cư vùng sạt lở thuộc gò Bà Tòng trên địa bàn xã Tịnh Đông, đã nhiều năm nhưng không triển khai thực hiện. Đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo ngành chức năng kiểm tra, xử lý.

Sở Tài nguyên và Môi trường trả lời:

Đối với dự án khai thác và tuyển quặng graphit tại mỏ Hưng Nhượng của Công ty Nobel: Sau khi được cấp phép Công ty chậm trễ trong việc hoàn thành các thủ tục sau giấy phép để đưa mỏ vào hoạt động, Sở đã tham mưu cho UBND tỉnh có các văn bản chỉ đạo (Công văn số: 689/UBND ngày 15/3/2007; 1484/UBND-NNTN ngày 25/5/2007; 370/UBND-NNTN ngày 20/02/2008; 1149/UBND-NNTN ngày 08/5/2009; 997/UBND-NNTN ngày 09/4/2010; số 2079/UBND-NNTN ngày 13/7/2010; 2425/UBND-NNTN ngày 29/8/2011; 4321/UBND-NNTN ngày 28/11/2012).

Tại Công văn số 2425/UBND-NNTN ngày 29/8/2011 (trên cơ sở báo cáo của Công ty, ý kiến của UBND huyện Sơn Tịnh tại Tờ trình số 949/TTr-UBND và Báo cáo số 90/BC-UBND ngày 15/8/2011 và ý kiến của các Sở, ngành tại cuộc họp do UBND tỉnh chủ trì ngày 16/8/2011), UBND tỉnh đã thống nhất gia hạn triển khai dự án đến ngày 31/12/2011.

Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh tại công văn nói trên, Công ty đã khẩn trương hoàn thành công tác thuê đất của dự án. Tuy nhiên, theo ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh tại Công văn số 583/UBND-NNTN ngày 09/3/2011 về việc xử lý hồ sơ thu hồi đất trong thời gian quy hoạch sử dụng đất thời kỳ 2011 - 2020 cấp tỉnh chưa được xét duyệt, trong nội dung Công văn này UBND tỉnh chỉ đạo trong thời gian chờ văn bản hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì thực hiện theo hướng dẫn tại Công văn số 259/TTg-KTN ngày 22/02/2011 của Thủ tướng Chính phủ, trong năm 2011 nếu có các dự án công trình cấp bách cần triển khai, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì UBND tỉnh trình Thủ tướng Chính phủ giải quyết. Ngày 12/8/2011, Tổ tiếp nhận hồ sơ một của Sở đã tiếp nhận hồ sơ của Công ty TNHH Nobel về việc thu hồi, thuê đất để xây dựng Nhà máy chế biến quặng graphít tại xã Tịnh Đông, huyện Sơn Tịnh. Nhưng trong diện tích đất của dự án có một phần đất lúa, hiện đang chờ ý kiến của Thủ tướng Chính phủ, do đó đến nay vẫn chưa hoàn thành thủ tục để thuê đất của dự án để triển khai thực hiện.

Dự án tái định cư vùng sạt lở thuộc gò Bà Tòng trên địa bàn xã Tịnh Đông, đã nhiều năm nhưng không triển khai thực hiện

Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trả lời:

Dự án tái định cư Gò Bà Tòng để bố trí tái định cư cho 50 hộ dân thuộc vùng sạt lở ven sông của xã Tịnh Đông, huyện Sơn Tịnh được Sở kế hoạch và đầu tư Quảng Ngãi phê duyệt Báo cáo kinh tế kỹ thuật theo Quyết định số 142/QĐ-SKHĐT ngày 09/8/2010 cùng 04 dự án tái định cư khác. Đây là những dự án chủ yếu được thực hiện từ nguồn vốn hỗ trợ của Trung ương theo Chương trình bố trí dân cư của Chính phủ (Chương trình 193 nay là chương trình 1776).

Để có vốn đầu tư cho các dự án tái định cư đã phê duyệt, Sở Nông nghiệp và PTNT đã kiến nghị UBND tỉnh đề nghị Trung ương hỗ trợ vốn đầu tư. Cụ thể như sau:

- Năm 2011: UBND tỉnh đã có Công văn số 2363/UBND-NNTN ngày 23/8/2011 gửi các Bộ: Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính xin bổ sung vốn để thực hiện di dân tái định cư các hộ vùng bị ảnh hưởng do thiên tai và trả nợ khối lượng hoàn thành; ngày 08/10/2011, UBND tỉnh có Công văn số 2868/UBND-NNTN tiếp tục đề nghị các Bộ, Ngành Trung ương bố trí vốn đầu tư cho các công trình này, trong đó có dự án tái dịnh cư Gò Bà Tòng.

- Năm 2012: UBND tỉnh có Tờ trình số 2550/TTr-UBND ngày 30/7/2012 gửi Thủ tướng Chính phủ và các Bộ: Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính xin bổ sung vốn để thực hiện di dân tái định cư các hộ vùng bị ảnh hưởng do thiên tai trên địa bàn tỉnh.

Ngoài ra, ngày 30/11/2012, UBND tỉnh có Báo cáo số 321/BC-UBND gửi HĐND tỉnh "Báo cáo kết quả đầu tư, hiệu quả sử dụng các dự án tái định cư tập trung phục vụ di dời dân ra khỏi vùng có nguy cơ cao về thiên tai trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2006 đến nay". Tại Báo cáo này, UBND tỉnh cũng đã đề nghị HĐND tỉnh ưu tiên bố trí vốn đầu tư nâng cấp hạ tầng các khu tái định cư đã xây dựng và bố trí vốn xây dựng mới các dự án tái định cư đã được phê duyệt.

- Tiếp tục năm 2013: UBND tỉnh có Tờ trình số 3592/TTr-UBND ngày 12/9/2013 gửi Thủ tướng Chính phủ và các Bộ; Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính xin bổ sung vốn để thực hiện di dân tái định cư các hộ vùng bị ảnh hưởng do thiên tai trên địa bàn tỉnh;

Các đề nghị trên chủ yếu là xin vốn bố trí đầu tư để thực hiện các dự án tái định cư đã được phê duyệt từ năm 2010, trong đó có dự án Gò Bà Tòng.

Tuy nhiên từ năm 2011 đến nay, Trung ương không bố trí vốn đầu tư xây dựng các khu tái định cư tập trung cho tỉnh Quảng Ngãi, bên cạnh đó ngân sách tỉnh còn khó khăn nên các dự án đã phê duyệt đến nay vẫn chưa có vốn đầu tư để thực hiện.

4.4. Cử tri xã Bình Thuận phản ánh Cầu tạm Sông Đầm được thi công để vận chuyển các thiết bị siêu trường, siêu trọng phục vụ thi công nhà máy lọc dầu Dung Quất, đến nay nhà máy đã đi vào hoạt động. Đề nghị UBND tỉnh cho tháo dỡ cầu để thuận lợi và đảm bảo an toàn cho tàu thuyền trong việc ra vào cửa lạch.

Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất trả lời:

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh Quảng Ngãi tại Công văn số 3212/UBND-CNXD ngày 20/8/2013 về việc xử lý cầu tạm sông Đầm, xã Bình Thuận, huyện Bình Sơn, Ban Quản lý KKT Dung Quất đang chỉ đạo các đơn vị có liên quan tổ chức tháo dỡ toàn bộ hệ thống các thanh dầm bản mặt và gia cố 02 bên mố cầu tạm sông Đầm, xã Bình Thuận. Dự kiến công việc sẽ hoàn thành trong tháng 9/2013 nhằm đảm bảo cho tàu thuyền của ngư dân địa phương lưu thông qua lại an toàn trong mùa mưa bão.

UBND huyện Bình Sơn trả lời:

Ngày 23/7/2013, UBND tỉnh có Công văn số 2761/UBND-CNXD về việc xử lý tình trạng cầu tạm Sông Đầm xuống cấp gây nguy hiểm đến tính mạng, tài sản của nhân dân. Theo đó, UBND tỉnh giao cho Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan kiểm tra, đề xuất phương án tháo dỡ cầu tạm Sông Đầm.

Ngày 06/8/2013, Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất tổ chức buổi kiểm tra hiện trường, tại buổi kiểm tra đại diện UBND xã Bình Thuận và UBND huyện Bình Sơn đã có ý kiến đề nghị tháo dỡ toàn bộ cầu và đường dẫn vào cầu tạm, nhằm tạo điều kiện cho tàu, thuyền ra vào neo đậu tránh, trú bão. Tuy nhiên, Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất chỉ thống nhất đề nghị tháo dỡ phần dầm và bản mặt cầu bị hư hỏng, phần đường dẫn và mố cầu vẫn giữ nguyên với lý do: Khẩu độ thông thuyền của cầu tạm và cầu mới như nhau, đồng thời giữ lại phần đường dẫn và mố cầu để dự phòng phục vụ cho việc vận chuyển các thiết bị xây dựng các Dự án lớn tại Khu kinh tế trong thời gian đến và đã báo cáo đề xuất UBND tỉnh tại Công văn số 912/BQL-TCKH ngày 15/8/2013.

Ngày 20/8/2013, UBND tỉnh có Công văn số 3212/UBND-CNXD chỉ đạo Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất tháo dỡ toàn bộ các thanh dầm bản mặt cầu tạm và gia cố 02 bên mố cầu, thời gian hoàn thành trong tháng 9/2013, đảm bảo cho tàu thuyền của ngư dân địa phương lưu thông qua lại an toàn trong mùa mưa bão.

 4.5. Cử tri huyện Sơn Tịnh phản ánh Dự án khu tái định cư Ngõ Miền xã Tịnh Hà thuộc dự án đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi, khi triển khai đơn vị thi công không hốt lớp phân hóa, lu lằn không đảm bảo chất lượng. Cử tri đề nghị tỉnh chỉ đạo ngành chức năng kiểm tra, xem xét.

Sở Giao thông - Vận tải trả lời:

- Về việc bóc lớp đất phong hoá trước khi san nền: Theo hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công của khu tái định Ngõ Miên đã được Giám đốc Sở Giao thông vận tải  (Chủ đầu tư Dự án) phê duyệt tại Quyết định số 424/QĐ-SGTVT ngày 14/5/2012 “trước khi đắp đất cần bóc bỏ lớp đất hữu cơ dày 30cm”, trong quá trình tổ chức thi công đơn vị thi công đã thực hiện bóc đất hữu cơ theo đúng hồ sơ thiết kế được duyệt, có sự giám sát chặt chẽ của Ban Quản lý dự án, Tư vấn giám sát trước khi đắp đất san nền K85. Tuy nhiên, do biện pháp tổ chức thi công của đơn vị thi công là đào bóc lớp đất hữu cơ cho từng khu vực, dồn đống và tiến hành đắp đất san nền, sau đó triển khai khu vực tiếp theo mới vận chuyển đất hữu cơ đổ đi nên mới có sự hiểu lầm của người dân đối với đơn vị thi công.

- Về chất lượng của công tác lu lèn hạng mục san nền: Theo hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công của khu tái định Ngõ Miên đã được Giám đốc Sở Giao thông vận tải  (Chủ đầu tư Dự án) phê duyệt tại Quyết định số 424/QĐ-SGTVT ngày 14/5/2012 “hệ số đầm chặt của hạng mục san nền là K≥0,85”, theo đó đơn vị thi công đã thực hiện đắp đất từng lớp với chiều dày trung bình 30cm và lu lèn theo đúng hồ sơ thiết kế được duyệt, sau khi lu lèn hoàn thành đơn vị tư vấn thí nghiệm tổ chức thí nghiệm xác suất tại hiện trường nếu đạt độ chặt K≥0,85 thì cho phép tiến hành đắp đất lớp tiếp theo, toàn bộ quá trình tổ chức thi công của đơn vị thi công đều được Ban Quản lý dự án, Tư vấn giám sát theo dõi, giám sát chặt chẽ và ghi nhật ký công trường chi tiết để làm cơ sở lập hồ sơ hoàn thành công trình.

Hiện nay, công trình đã thi công hoàn thành, trong tháng 9 tổ chức nghiệm thu hoàn thành và bàn giao cho UBND huyện Sơn Tịnh quản lý, bố trí tái định cư cho các hộ dân phục vụ giải phóng mặt bằng dự án đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi.

4.6. Cử tri huyện Tây Trà phản ánh bờ kè taluy dương khu Tái định cư thôn Bắc nguyên 2, khu tái định cư mới thôn Tre (xã Trà Thọ) đã nức gãy, dễ gây sạt lỡ khi mưa lớn; cần xây dựng trường tiểu học và nhà công vụ ở thôn Tre và thôn Tây (xã Trà Thọ); di dời trụ điện trước trụ sở UBND xã Trà Xinh. Đề nghị tỉnh sớm chỉ đạo để khắc phục các tình trạng trên.

UBND huyện Tây Trà trả lời:

1. Bờ kè taluy dương khu tái định cư thôn Bắc Nguyên 2, khu tái định cư mới thôn Tre (xã Trà Thọ) đã nứt gãy, dễ gây sạt lở khi mưa lớn (thuộc dự án Hợp phần di dân tái định cư Hồ chứa nước Nước Trong do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm chủ đầu tư)

Đợt mưa lớn cuối tháng 7/2013 đã gây ra một số điểm xói lở ở khu tái định cư Bắc Nguyên 2. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh tại Công văn số 2676/UBND-NNTN ngày 18/7/2013 về việc kiểm tra, xử lý thông tin báo nêu; ngày 23/7/2013, UBND huyện phối hợp cùng Ban Quản lý dự án Hợp phần di dân tái đinh cư Hồ chứa nước Nước Trong đã tổ chức kiểm tra hiện trường tại mặt bằng khu tái định cư Bắc Nguyên 2 - xã Trà Thọ, kết quả kiểm tra và xử lý như sau:

            - Hiện tượng xói lở: Có 05 điểm xói lở do lượng nước mưa tập trung cục bộ gây ra, vị trí xói lở chủ yếu là phần đất đắp ở đỉnh và chân mái tự nhiên ngoài phạm vi mặt bằng san nền của dự án do nhà thầu xây dựng đổ thải trong quá trình thi công, không ảnh hưởng đến tính ổn định của công trình. Tuy nhiên, có 01 điểm xói lở ở mái phần đất đắp, cách phạm vi mặt bằng san nền khoảng 1,5m, tại vị trí lô B, rảnh xói không lớn. Đây là vị trí cần khắc phục ngay để đảm bảo ổn định mặt bằng công trình và nhà ở của dân.

- Nguyên nhân xói lở tại vị trí lô B: Theo thiết kế, độ dốc san nền hướng về trước nhà ở, nước mưa sẽ tập trung vào rảnh thoát nước dọc đường nội bộ. Tuy nhiên, 03 lô đất ở tại vị trí lô B, nhà thầu đã thi công phía trước nhà cao hơn phía sau nhà nên nước mưa đã tập trung vào các điểm thấp cục bộ phía sau nhà ở và gây xói lở cục bộ như trên.

- Biện pháp khắc phục: Nhà thầu đã nạo vét các rãnh thoát nước để thoát nước mưa. Tại 03 lô đất ở tại vị trí lô B, bóc bỏ toàn bộ phần đất đắp, đầm chặt mái đất đắp theo đúng thiết kế và trồng cỏ gia cố mái, bổ sung rảnh thoát nước bằng bê tông M150 dẫn về rãnh thoát nước chung.

Theo thiết kế và thực tế đã thi công, các công trình hạ tầng kỹ thuật, nhà ở, công trình phúc lợi của khu tái định cư Bắc Nguyên 2 đều nằm trên nền đất đào, ổn định, không có hiện tượng sạt lở gây mất ổn định. Các vị trí xói lở thời gian qua do nước mưa tập trung và gây xói lở cục bộ phần đất gửi trong quá trình thi công Nhà thầu đã đổ thải, không ảnh hưởng đến tính ổn định của mặt bằng công trình.

2. Cần xây dựng trường Tiểu học và Nhà công vụ ở thôn Tre và thôn Tây (xã Trà Thọ)

Xã Trà Thọ có 06 điểm trường Tiểu học. Năm 2006, huyện đã đưa vào kế hoạch xây dựng tại điểm trường Thôn Tre, Nước Biếc; tuy nhiên, các điểm trường này nằm trong diện tích quy hoạch lòng hồ Hồ chứa nước Nước Trong nên đã điều chỉnh địa điểm xây dựng tại thôn Bắc Nguyên và Bắc Dương. Hiện nay, điểm trường Thôn Tây, Nước Biếc thiếu phòng học; UBND huyện đã chỉ đạo Phòng Giáo dục và Đào tạo xây dựng trường Tiểu học tạm cho các em học tập, đồng thời, chỉ đạo UBND xã Trà Thọ phối hợp với các phòng, ban liên quan chọn địa điểm thích hợp để đưa vào kế hoạch xây dựng phòng học tại 02 điểm trường này trong năm 2014.

3. Di dời trụ điện trước UBND xã Trà Xinh (thuộc dự án Hợp phần di dân tái định cư Hồ chứa nước Nước Trong do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm chủ đầu tư)

Theo quy hoạch của dự án, tại khu Cà La được chọn làm địa điểm xây dựng khu tái định cư, trong đó có trụ sở UBND xã Trà Xinh, do đó, tất cả các công trình, vật kiến trúc, cây cối hoa màu tại đây đều được đưa vào phương án bồi thường; việc di dời các trụ điện tại khu tái định cư Cà La cũng được đưa vào phương án bồi thường. Tuy nhiên, việc xây dựng các khu tái định cư được thực hiện trước, phương án bồi thường thực hiện sau, dẫn đến có tình trạng trụ điện nằm ngay trước trụ sở UBND xã. Hiện nay, phương án bồi thường đã thực hiện xong và Công ty Điện lực Quảng Ngãi đã di dời trụ điện trước UBND xã Trà Xinh vào đầu tháng 8/2013.

4.7. Cử tri huyện Tây Trà tiếp tục phản ánh, kiến nghị UBND tỉnh kiểm tra, chỉ đạo Ban quản lý dự án hợp phần di dân tái định cư hồ chứa nước Nước Trong cần  đền bù và tái định cư vùng lòng hồ thuộc xã Trà Thọ, xã Trà Xinh, thôn Hà Riềng - xã Trà Phong đúng tiến độ; khẩn trương đầu tư chỉnh trang cơ sở hạ tầng, trường học, trạm xá, điện, nước sinh hoạt ở các khu tái định cư.

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trả lời:

1. Về công tác  bồi thường và giải phóng mặt bằng:

- Đối với khu vực lòng hồ xã Trà Thọ, Trà Xinh, thôn Hà Riềng - xã Trà Phong: Dự án đã chi trả tiền bồi thường cho các hộ dân bị ảnh hưởng với tổng số tiền là 148.283 triệu đồng (trong đó, xã Trà Thọ là 80.530 triệu đồng; Trà Xinh  47.970 triệu đồng; Trà Phong 19.782 triệu đồng). Số tiền còn lại chưa chi trả cho các hộ bị ảnh hưởng còn lại là rất ít của các mục: tiền đất ở nơi tái định cư, di dời mồ mã, hỗ trợ sản xuất. Trong cuối năm 2013, sau khi tính toán, xác định lại số liệu chính xác các mục trên, Ban Quản lý Dự án sẽ thực hiện chi trả.

- Đối với phương án bồi thường (PABT) khu tái định cư Giờ Lao - xã Trà Phong: Đã chi trả tiền đợt I và PABT đợt II đã được phê duyệt, sẽ chi trả tiền cho người dân trong tháng 10/2013.

- Đối với 02 PABT khu tái định cư xã Trà Thọ, Trà Xinh: Đã chi trả tiền bồi thường đợt I (phần cây cối, hoa màu). Riêng PABT đợt II (phần đất và vật kiến trúc) đã trình UBND huyện Tây Trà thẩm định, phê duyệt (do mới có Quyết định số 214/QĐ-UBND ngày 11/9/2013 của UBND tỉnh về việc Ban hành Quy định bổ sung về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án Hồ chứa nước Nước Trong thay thế Quyết định số 144/QĐ-UBND ngày 30/8/2010 của UBND tỉnh).

- Đối với PABT tuyến đường số 02 - xã Trà Thọ (phần bổ sung): UBND huyện Tây Trà đã thẩm định. Sau khi được phê duyệt, sẽ thực hiện chi trả tiền cho người dân trong tháng 10/2013 (do chờ Quyết định số 214/QĐ-UBND ngày 11/9/2013 của UBND tỉnh).

- Các PABT đất ruộng, vườn rừng tại xã Trà Thọ, Trà Xinh và Trà Phong: Ban Quản lý dự án đang tiến hành lập thủ tục thu hồi đất, lập PABT và sẽ trình cho UBND huyện Tây Trà thẩm định, phê duyệt trong tháng 10-11/2013.

Các PABT khi được UBND huyện Tây Trà phê duyệt, Sở Nông nghiệp và PTNT sẽ nhanh chóng chỉ đạo Ban Quản lý Dự án tiến hành ngay công tác chi trả tiền bồi thường cho người dân nơi đây. 

2. Xây dựng hạ tầng kỹ thuật và các công trình phúc lợi:

Đến cuối năm 2012, dự án đã xây dựng hoàn thành 05 khu tái định cư trên địa bàn huyện Tây Trà, gồm các khu tái định cư: Bắc Nguyên 2, Suối Y, Sờ Lác - xã Trà Thọ, khu tái định cư Cà La - xã Trà Xinh và khu tái định cư Giờ Lao - xã Trà Phong, gồm: San nền, hệ thống thoát nước, hệ thống cấp nước sinh hoạt, hệ thống cấp điện sinh hoạt, đường giao thông nội bộ và 24 công trình phúc lợi. Đã cấp điện sinh hoạt và cấp nước sinh hoạt cho 05 khu tái định cư.

Dự án đã tiến hành bàn giao cho địa phương quản lý, sử dụng 03/05 khu tái định cư, dự kiến trong tháng 10/2013 sẽ bàn giao 02 khu tái định cư còn lại cho địa phương (24 công trình phúc lợi đã bàn giao cho địa phương quản lý, sử dụng trong đầu năm 2013).

Như vậy, về công tác bồi thường, tái định cư vùng lòng hồ tại xã Trà Thọ, Trà Xinh, thôn Hà Riềng - xã Trà Phong cơ bản đáp ứng Kế hoạch năm 2013 của Dự án đề ra, các công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình phúc lợi trong 05 khu tái định cư trên địa bàn huyện Tây Trà đã hoàn thành và đưa vào sử dụng. 157/160 hộ đã có nhà ở trong khu tái định cư (còn 03 hộ đang tự xây dựng nhà ở).

4.8. Cử tri thành phố Quảng Ngãi phản ánh khu tái định cư dự án trường Cao đẳng kỷ thuật Việt - Hàn, hiện các hộ dân đã xây dựng nhà ở nhưng không có hệ thống nước sạch; cần giải phóng mặt bằng đường Phan Đình Phùng, đoạn phía Tây Trường Đại học Phạm Văn Đồng. Đề nghị tỉnh chỉ đạo ngành chức năng xử lý để đảm bảo đời sống nhân dân.

a) Khu tái định cư dự án Trường Cao đẳng nghề Việt - Hàn Quảng Ngãi hiện các hộ dân đã xây dựng nhà ở nhưng không có hệ thống nước sạch.

Sở Lao động, Thương binh và Xã hội trả lời:

Hệ thống cấp nước tại khu tái định cư được thiết kế đường ống thép tráng kẽm D100, D60 dẫn từ đường Hoàng Hoa Thám vào khu tái định cư và đường ống thép tráng kẽm D150 dẫn nước từ Khu công nghiệp Quảng Phú chạy dọc theo đường Hoàng Hoa Thám để cấp nước cho Khu tái định cư và cho Trường. Hạng mục này đã được triển khai thi công đúng theo hồ sơ thiết kế, được nghiệm thu và đưa vào sử dụng vào ngày 18/01/2008, tuy nhiên tại thời điểm này nguồn nước để cấp cho hệ thống này chưa có.

Thời gian qua, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã chỉ đạo cho Ban quản lý các dự án đầu tư và xây dựng ngành phối hợp với các đơn vị liên quan hoàn thành việc nghiệm thu thử áp lực đường ống, súc xả, khử trùng và kiểm nghiệm chất lượng nước của đường ống cấp nước cho khu tái định cư (Có biên bản nghiệm thu, Biên bản lấy mẫu nước và Kết quả kiểm nghiệm nước kèm theo).

Ngày 25/6/2013, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội có Công văn số 956/SLĐTBH-DA gửi cho Công ty cấp thoát nước và xây dựng Quảng Ngãi về việc đề nghị đấu nối cấp nước sinh hoạt cho nhân dân ở khu tái định cư Trường Cao đẳng nghề Viêt - Hàn Quảng Ngãi. Công ty cấp thoát nước và xây dựng Quảng Ngãi đã tiến hành thi công lắp đặt thiết bị và hoàn thành phần công việc đấu nối nước vào đường ống để cấp cho dân khu tái định cư của trường (Có biên bản nghiệm thu đấu nối cấp nước sinh hoạt cho khu tái định cư Trường kèm theo).  

Như vậy đến nay, hệ thống cấp nước sinh hoạt cho nhân dân ở khu tái định cư Trường Cao đẳng nghề Việt-Hàn- Quảng Ngãi đã có nước sạch phục vụ sinh hoạt. Đến ngày 18/9/2013, đã có 06/25 hộ đã đăng ký với Công ty cấp thoát nước và xây dựng Quảng Ngãi lắp đặt thiết bị sử dụng nước sinh hoạt cho gia đình, số hộ còn lại đăng ký sử dụng trong thời gian tới.

b) Cần giải phóng mặt bằng đường Phan Đình Phùng, đoạn phía Tây Trường Đại học Phạm Văn Đồng

UBND thành phố Quảng Ngãi trả lời:

Dự án đường Phan Đình Phùng – nối dài được UBND tỉnh Quảng Ngãi phê duyệt dự án đầu tư tại Quyết định số 811/QĐ-UBND ngày 05/4/2006, trong đó thời gian thực hiện dự án được xác định: Khi hội đủ các điều kiện theo quy định và được ghi kế hoạch vốn đầu tư. Trên cơ sở đó, Ban quản lý các dự án Đầu tư & Xây dựng thành phố đã triển khai thực hiện các bước tiếp theo nhằm sớm thi công hoàn thành dự án theo kế hoạch như lập quy hoạch, khảo sát lập hồ sơ TKBVTC, đo đạc bản đồ địa chính, khảo sát lập phương án bồi thường, tổ chức đấu thầu và triển khai thi công xây lắp các hạng mục của dự án vào năm 2008 đối với các hạng mục: Nền + mặt đường, thoát nước dọc (phần cống D400 qua đường), thoát nước ngang; Vỉa hè, Cây xanh, San nền khu tái định cư; đến năm 2011, mới tổ chức đấu thầu và triển khai thi công hạng mục điện chiếu sáng và đèn tín hiệu giao thông và năm 2012 mới triển khai thi công hạng mục thoát nước dọc. Đến nay, các hạng mục của dự án vẫn chưa thi công hoàn thành theo kế hoạch do các nguyên nhân chính sau:

Nguyên nhân của sự chậm trễ:

- Nguyên nhân chủ quan:

- Việc tham mưu quy hoạch và thu hồi đất để xây dựng khu tái định cư dọc hai bên đường Phan Đình Phùng – nối dài trên phần lớn đất thổ cư (đất ở và đất vườn) là không phù hợp với thực tế.

- Việc lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có trường hợp chưa chính xác dẫn đến phải điều chỉnh, bổ sung làm kéo dài thời gian giải phóng mặt bằng.

- Việc báo cáo, đề xuất xử lý với cấp thẩm quyền các nội dung không có trong các quy định hiện hành chưa được kịp thời.

- Công tác phối hợp với chính quyền địa phương, các ngành và các hội đoàn thể để giải thích, vận động chưa kịp thời.

  Nguyên nhân khách quan:

- Các hộ dân trong vùng dự án chưa đồng thuận cao trong việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; cơ chế chính sách và đơn giá về bồi thường có nhiều thay đổi trong quá trình thực hiện.

- Cơ chế bồi thường có sự khác nhau giữa các dự án trên cùng địa bàn thành phố, làm các hộ giải tỏa so bì (dự án Phan Đình Phùng – nối dài và dự án đường Bàu Giang – Cầu mới).

- Một số hộ dân có đất ở trong vùng dự án không thống nhất thu hồi đất để xây dựng khu tái định cư hai bên đường mà chỉ thống nhất cho thu hồi phần đất làm đường với mặt cắt 21m.

- Một số hộ dân vì lợi ích cá nhân mà không chấp hành chủ trương chính sách của Nhà nước, đặc biệt là các hộ đại diện cho Miếu từ Da Dù yêu cầu bồi thường phần đất Miếu từ và phần đất nghĩa địa xung quanh Miếu (không có quy định bồi thường).

Những tồn tại, vướng mắc trong công tác bồi thường, GPMB:

Đến nay, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng để thông tuyến đường Phan Đình Phùng – nối dài còn vướng 06 hộ. Cụ thể gồm: hộ  ông Nguyễn Hữu Danh, Đinh Thị Tuyết, Lương Thị Liễn, Nguyễn Hơn, Lê Tấn Thương, Lê Tấn Lượng

Công tác thi công xây lắp:

Do vướng mắc trong công tác bồi thường, GPMB như đã nêu trên, nên đến nay các gói thầu thi công xây lắp của dự án đường Phan Đình Phùng – nối dài chưa hoàn thành theo hợp đồng đã ký kết. Cụ thể, đến nay đã thi công hoàn thành các hạng mục nền + mặt đường, thoát nước, vỉa hè, san nền, điện chiếu sáng đoạn từ đường Lê Lợi đến giáp nhà ông Nguyễn Hơn (phía Nam Kênh N6) và đoạn từ nhà ông Nguyễn Hữu Danh đến đường Trường Chinh với tổng chiều dài là: 1.325m/1.435m; đoạn còn lại vướng mặt bằng chưa thi công được là: 100m/1.435m tại vị trí nút giao thông Lý Thái Tổ.

Biện pháp thực hiện trong thời gian đến:

Trong thời gian đến, UBND thành phố tiếp tục chỉ đạo Ban quản lý dự án sẽ phối hợp với các đơn vị liên quan tiếp tục vận động các hộ nhận tiền bồi thường, nhận đất tái định cư và bàn giao mặt bằng cho Nhà nước thi công xây dựng công trình. Nếu các hộ dân vẫn không chấp hành, thì sẽ tổ chức lập các thủ tục tiếp theo để cưỡng chế thu hồi đất.

Hiện nay, UBND thành phố đang tập trung chỉ đạo giải quyết các vướng mắc. Dự kiến hoàn thành công tác bồi thường, GPMB và thi công xây dựng xong các hạng mục của dự án vào tháng 10/2013.

4.9. Cử tri thành phố Quảng Ngãi tiếp tục đề nghị UBND tỉnh tập trung chỉ đạo giải quyết dứt điểm, trả lời chính thức cho nhân dân rõ khi nào giải quyết, phương án giải quyết việc bồi thường cho 47 hộ dân thuộc dự án mở rộng đường Nguyễn Công Phương (đoạn từ ngã năm cũ đến ngã năm mới).

Trả lời:

UBND tỉnh đã chỉ đạo UBND tỉnh đã có Công văn số 1873/UBND-NC ngày 27/5/2013 giao nhiệm vụ đến các Sở, ngành: Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Giao thông vận tải, Thanh tra tỉnh nghiêm túc thực hiện.

4.10. Cử tri huyện Tư Nghĩa tiếp tục phản ánh hiện nay việc quy định giá đất tại một số địa phương, một số vùng liền kề quá bất hợp lý, cùng một vùng đất, vị trí cách nhau không xa nhưng có giá chênh lệch nhau nhiều lần, thậm chí có nơi gấp hàng chục lần, điều này gây thắc mắc trong nhân dân, khó khăn trong việc giải thích và thực hiện công tác đền bù. Việc này ngành chức năng trả lời chưa thỏa đáng, chưa rõ. Đề nghị tỉnh chỉ đạo xem xét, có biện pháp điều chỉnh cho phù hợp với thực tế hơn.

Sở Tài nguyên và Môi trường trả lời:

Giá đất ở trên địa bàn huyện Tư Nghĩa được UBND tỉnh quy định tại Quyết định số 49/2012/QĐ-UBND ngày 27/12/2013 gồm 3 khu vực là khu vực các thị trấn, khu vực các xã đồng bằng và khu vực các xã miền núi.

Qua kết quả rà soát bảng quy định giá các loại đất năm 2013 được UBND tỉnh ban hành tại Quyết định số 49/2012/QĐ-UBND ngày 27/12/2013, Sở Tài nguyên và Môi trường nhận thấy rằng: Sự chênh lệch về giá đất như phản ánh của cử tri huyện Tư Nghĩa chủ yếu là chênh lệch giá đất ở tại một số khu vực giáp ranh giữa huyện Tư Nghĩa với các huyện lân cận, đặc biệt là với các khu vực giáp ranh với thành phố Quảng Ngãi có mức giá chênh lệch tương đối cao, cụ thể tại các tuyến đường, khu vực giáp ranh như: Tuyến đường Quang Trung đoạn từ Cao Bá Quát đến cầu Bầu Giang (thuộc thành phố Quảng Ngãi) có mức giá 5.500.000 đồng/m2, trong khi đó đoạn tiếp nối là đường Quốc lộ 1A đoạn từ cầu Bàu Giang đến giáp ngã 4 đường UBND huyện đi Nghĩa Trung - Cụm công nghiệp thị trấn La Hà (thuộc huyện Tư Nghĩa) có mức giá 2.000.000 đồng/m2; Tuyến đường Nguyễn Công Phương (thuộc thành phố Quảng Ngãi) đoạn từ ngã 5 (mới) đến địa giới xã Nghĩa Điền huyện Tư Nghĩa có mức giá là 4.000.000 đồng/m2, trong khi đó đoạn tiếp nối là Tỉnh lộ 624 (thuộc huyện Tư Nghĩa) đoạn từ ranh giới thành phố Quảng Ngãi đến Dốc Chuồi có mức giá là 1.000.000 đồng/m2; Tuyến đường Hoàng Hoa Thám (thuộc thành phố Quảng Ngãi) có mức giá 2.500.000 đồng/m2, trong khi đó đoạn tiếp nối là Tỉnh lộ 623B (thuộc huyện Tư Nghĩa) đoạn từ ranh giới thành phố Quảng Ngãi đến giáp ngã 3 đường vào HTXNN Kỳ Tây thuộc xã Nghĩa Kỳ có mức giá 200.000 đồng/m2.

Ngoài ra, bảng giá đất trên địa bàn huyện Tư Nghĩa do được ban hành quy định chung đối với tất cả các xã thuộc huyện đồng bằng và tất cả các xã thuộc huyện miền núi nên trong quá trình áp dụng bảng giá đất để sử dụng vào các mục đích khác nhau như: tính thuế sử dụng đất, lệ phí trước bạ, tính tiền bồi thường khi nhà nước thu hồi đất,… tại một số vị trí, khu vực có phát sinh sự so sánh chênh lệch tại các điểm giáp ranh.

a) Nguyên nhân sự chênh lệch:

Sự chênh lệch giữa các mức giá tại các khu vực giáp ranh giữa huyện Tư Nghĩa với thành phố Quảng Ngãi và giữa các vị trí, khu vực thuộc địa bàn các xã xuất phát từ nguyên nhân là khi xây dựng Bảng giá đất hàng năm trên địa bàn tỉnh phải căn cứ trên cơ sở khung giá đất do Chính phủ quy định tại Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007. Theo đó, thành phố Quảng Ngãi thuộc đô thị loại III với khung giá quy định thấp nhất là 120.000 đồng/m2 và cao nhất là 19.500.000 đồng/m2, bên cạnh đó giá đất ở tại các xã đồng bằng giáp ranh thuộc huyện Tư Nghĩa được xây dựng trên cơ sở khung giá thấp nhất là 10.000 đồng/m2 và cao nhất là 1.875.000 đồng/m2, giá đất ở  đối với các xã miền núi được xây dựng trên cơ sở khung giá thấp nhất là 2.500 đồng/m2 và cao nhất là 900.000 đồng/m2. Như vậy, theo khung giá do Chính phủ quy định thì giá đất cao nhất tại khu vực thành phố Quảng Ngãi cao gấp 10,4 lần so với giá đất cao nhất tại các xã đồng bằng thuộc huyện Tư Nghĩa; giá đất cao nhất tại các xã đồng bằng cao gấp 2,1 lần tại các xã miền núi, nên khi áp dụng khung giá này trong quá trình xây dựng bảng giá đất dẫn đến chênh lệch lớn về giá tại các khu vực giáp ranh giữa khu vực đô thị và nông thôn, đồng bằng và miền núi.

Ngoài ra, thực hiện theo chủ trương của Chính phủ về bình ổn giá, kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội nên việc xây dựng bảng giá đất qua các năm 2011, 2012, 2013 trên địa bàn tỉnh nói chung và địa bàn huyện Tư Nghĩa nói riêng cơ bản giữ ổn định các mức giá, chỉ bổ sung những tuyến đường mới và điều chỉnh các vị trí có giá đất chưa hợp lý cho phù hợp. Mặt khác, theo Quyết định số 49/2012/QĐ-UBND ngày 27/12/2013 của UBND tỉnh thì bảng giá đất ở trên địa bàn huyện Tư Nghĩa được quy định chung cho tất cả các xã nông thôn nên dễ nảy sinh sự so sánh chênh lệch về giá tại một số khu vực giáp ranh giữa các tuyến đường, các xã trên địa bàn huyện, gây khó khăn trong việc rà soát, điều chỉnh bảng giá đất tại các vị trí, khu vực trên địa bàn huyện.     

b). Biện pháp điều chỉnh:

Xuất phát từ tình hình thực tế nêu trên, Sở Tài nguyên và Môi trường đã trình UBND tỉnh cho chủ trương thực hiện việc điều tra, khảo sát, xây dựng bảng giá đất năm 2014 trên địa bàn tỉnh và đã được UBND tỉnh thống nhất tại Công văn số 1983/UBND-NNTN ngày 03/6/2013, theo đó nội dung Công văn chỉ đạo: “Tách riêng bảng giá đất cho từng xã thuộc các huyện trước đây chưa tách, gồm có: Bình Sơn, Tư Nghĩa, Mộ Đức, Ba Tơ, Sơn Tây, Tây Trà, Lý Sơn”. Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, hiện nay Sở Tài nguyên và Môi trường đang tiến hành khảo sát, điều tra để xây dựng bảng giá đất năm 2014 trên địa bàn tỉnh, trong đó sẽ xây dựng riêng bảng giá đất cho từng xã thuộc huyện Tư Nghĩa để thuận lợi trong việc điều chỉnh các mức giá tại các khu vực giáp ranh cho phù hợp với thực tế tại địa phương và ban hành điều chỉnh cụ thể trong bảng giá đất năm 2014.

Trường hợp trong năm 2013, nếu phát sinh những vấn đề có liên quan đến lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân mà cần điều chỉnh bảng giá đất trên địa bàn huyện Tư Nghĩa thì đề nghị UBND huyện Tư Nghĩa, các cơ quan có liên quan tổng hợp cụ thể những trường hợp phát sinh gửi Sở Tài nguyên và Môi trường tổng hợp trình UBND tỉnh xem xét, điều chỉnh cho phù hợp.

4.11. Cử tri huyện Đức Phổ phản ánh việc chậm cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân bị ảnh hưởng bởi Dự án mở rộng Quốc lộ 24 (đoạn Thạch Trụ, xã Phổ Phong) làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất. Đề nghị UBND tỉnh sớm chỉ đã giải quyết.

UBND huyện Đức Phổ trả lời:

Năm 2006, UBND huyện Đức Phổ thực hiện Dự án đa dạng hóa nông nghiệp nông thôn để cấp đổi, cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhân dân trên địa bàn huyện, trong đó có xã Phổ Phong cơ bản hoàn thành.

Tuy nhiên, hiện nay ở xã Phổ Phong vẫn còn một số trường hợp chưa được cấp đổi, cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do người sử dụng đất chưa đến cơ quan có thẩm quyền để thực hiện kê khai cấp đổi, cấp mới giấy chứng nhận, một số hộ không có mặt tại địa phương, một số hộ do thế chấp quyền sử dụng đất tại ngân hàng. Hiện nay UBND huyện đang tiếp tục chỉ đạo UBND các xã, các phòng liên quan ở huyện tiếp tục thực hiện việc cấp đổi, cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng theo quy định pháp luật hiện hành cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu.

Mặc khác trong việc thu hồi giấy chứng  nhận quyền sử dụng đất phục vụ cho công tác bồi thường dự án QL24, đến nay phần lớn giấy chứng nhận của những hộ dân này đã được điều chỉnh (trang 4) và đã trả lại giấy chứng nhận cho nhân dân; riêng trên 64 trường hợp chưa trả lại cho hộ dân vì những giấy chứng nhận này là giấy cũ được cấp trước năm 2006 nên xã và các phòng chức năng đang hướng dẫn cho người dân lập đầy đủ thủ tục theo quy định để cấp đổi lại cho người dân nên có chậm về mặt thời gian.

Riêng một số ít hộ dân nằm dọc hai bên đường QL24 phản ảnh huyện đã ban hành giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng xã nhận về chưa giao cho dân nên họ chưa nhận được tiền đền bù. Nội dung này UBND huyện đang chỉ đạo thanh tra làm rõ trước ngày 30/9/2013 sẽ tiếp tục báo cáo cho cấp có thẩm quyền tiếp theo.

4.12. Cử tri huyện Bình Sơn tiếp tục phản ánh Khu tái định cư Đồng Rướn xã Bình thuận được đầu tư xây dựng vào năm 2000 nhưng đến nay vẫn chưa có hệ thống nước sạch sử dụng, gây khó khăn và bức xúc trong nhân dân. Đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo sớm giải quyết dứt điểm để nhân dân an tâm lao động sản xuất, ổn định cuộc sống.

Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất trả lời:

Khu tái định cư Đồng Rướn xã Bình Thuận đã được Ban Quản lý KKT Dung Quất đầu tư xây dựng hoàn thành và bàn giao cho UBND huyện Bình Sơn vào năm 2002. Vào thời điểm này, chưa có nhà máy nước cung cấp nước sạch nên trong dự án không đầu tư hệ thống cấp nước sạch và chỉ đầu tư giếng khoan. Đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo UBND huyện Bình Sơn, UBND xã Bình Thuận nghiên cứu, bố trí vốn để triển khai thực hiện hệ thống cấp nước sạch đáp ứng yêu cầu của người dân.

4.13. Cử tri huyện Sơn Tịnh phản ánh việc giải phóng mặt bằng để thi công đường và vỉa hè giao thông nội bộ tại thôn Đông Thuận, xã Tịnh Hòa đã được thi công nhưng đến nay nhân dân chưa nhận được tiền đền bù (Dự án do Ban Quản lý Nhà máy lọc dầu Dung Quất làm chủ đầu tư). Đề nghị tỉnh chỉ đạo các ngành chức năng giải quyết.

UBND huyện Sơn Tịnh trả lời:

Nội dung kiến nghị của cử tri liên quan đến Dự án Nâng cấp, hoàn chỉnh hạ tầng dân sinh khu tái định cư làng cá Đông Hòa, xã Tịnh Hòa, huyện Sơn Tịnh do Ban Quản lý dự án Nhà máy lọc dầu Dung Quất làm Chủ đầu tư.

Nội dung này UBND huyện Sơn Tịnh đã có Báo cáo số 66/BC-UBND ngày 16/4/2013 báo cáo giải quyết trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri gửi Thường trực HĐND tỉnh, UBND tỉnh và đã báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh tại Công văn số 1316/UBND ngày 29/7/2013 về việc báo cáo, đề xuất xử lý các tồn tại, giải quyết ý kiến, kiến nghị của nhân dân đối với Dự án Nâng cấp, hoàn chỉnh hạ tầng dân sinh khu TĐC và Kè chống sạt lỡ Làng cá Đông Hòa, xã Tịnh Hòa, huyện Sơn Tịnh (có phô tô kèm theo).  

Đồng thời, các tồn tại, vướng mắc liên quan đến Dự án Nâng cấp, hoàn chỉnh hạ tầng dân sinh khu TĐC và Kè chống sạt lỡ Làng cá Đông Hòa, xã Tịnh Hòa, huyện Sơn Tịnh đã được UBND tỉnh chỉ đạo giải quyết tại Thông báo số 222/TB-UBND ngày 28/8/2013 thông báo kết luận của Phó Chủ tịch UBND tỉnh tại cuộc họp liên quan Dự án Khu xử lý chất thải Khu kinh tế Dung Quất và Khu Tái định cư Đông Hòa, xã Tịnh Hòa.

Thực hiện nội dung Thông báo nêu trên, ngày 19/9/2013 UBND huyện Sơn Tịnh đã tổ chức kiểm tra thực tế và làm việc với Đảng ủy, UBND xã Tịnh Hòa, Ban thôn Đông Thuận - xã Tịnh Hòa để xác định cụ thể khối lượng các hạng mục, công trình cần phải tiếp tục đầu tư và dự toán kinh phí đầu tư (trong đó bao gồm cả kinh phí chi trả cho các hộ dân đã tháo dỡ, bàn giao mặt bằng cho Chủ đầu tư để thi công hạng mục đường, vĩa hè giao thông nội bộ tại khu TĐC nhưng chưa nhận được tiền bồi thường).

Trên cơ sở kết quả kiểm tra, UBND huyện Sơn Tịnh đang tổng hợp và báo cáo UBND tỉnh cụ thể khối lượng các hạng mục, công trình cần phải tiếp tục đầu tư và dự toán kinh phí đầu tư (trong đó bao gồm cả kinh phí chi trả cho các hộ dân đã tháo dỡ, bàn giao mặt bằng cho Chủ đầu tư để thi công hạng mục đường, vĩa hè giao thông nội bộ tại khu TĐC nhưng chưa nhận được tiền bồi thường) để UBND tỉnh xem xét, đề nghị Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Công ty TNHH Một thành viên Lọc hóa dầu Bình Sơn hỗ trợ kinh phí để tiếp tục thực hiện các hạng mục, công trình này theo đúng thiết kế được duyệt, nhằm góp phần phát huy hiệu quả của Dự án, không để tình trạng dỡ dang ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt của người dân thôn Đông Hòa, xã Tịnh Hòa.