In bài
Chiến thắng Điện Biên Phủ - mốc son chói lọi bằng vàng (Kỷ niệm 63 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ: 07/5/1954 - 07/5/2017)
Cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân năm 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp của Mỹ. Chiến công bất hủ đó đã giành lại độc lập, tự do trên nửa phần đất nước, giải phóng miền Bắc, khai phá con đường cho dân tộc ta tiến tới cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN), xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở miền Bắc, tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên CNXH.

 

Điện Biên Phủ là một thung lũng lòng chảo rông lớn ở phía Tây vùng rừng núi Tây Bắc. Đây là một căn cứ quân sự rất thuận lợi. Thực dân pháp lấy căn cứ này làm địa bàn chiến lược cơ động. Trong chiến dịch Thu Đông 1953 - 1954, Pháp tập trung tại tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ một lực lượng quân sự lớn với 17 tiểu đoàn bộ binh và lính dù, 3 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội xe vận tải có khoảng 200 chiếc và một phi đội không quân thường trực 14 chiếc. Số quân lính địch là 16.200 tên, chúng bố trí 49 cứ điểm thành 8 cụm, mỗi cụm là một hệ thống hoả lực nhiều tầng. 8 cụm cứ điểm chia làm 3 phân khu, phân khu trung tâm gồm 2/3 lực lượng ở ngay giữa Mường Thanh. Hai sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm với gần 100 chiếc lên, xuống mỗi ngày có thể vận chuyển khoảng 200 đến 300 tấn hàng và thả dù từ 100 đến 150 tên địch, đảm bảo nguồn tiếp viện cho quân Pháp trong quá trình tác chiến.

Sau khi phân tích tình hình các chiến trường, Hồ Chủ tịch và Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp, thông qua kế hoạch tác chiến của Bộ tư lệnh và quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, một trận “quyết chiến chiến lược” giữa ta và Pháp. Bộ Chính trị nhận định, tuy Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm mạnh, song bị cô lập và rất xa hậu phương của địch nên mọi tiếp tế đều dựa vào đường hàng không. Đồng thời Bộ Chính trị ra quyết định thành lập Bộ chỉ huy và Đảng Ủy mặt trận do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp lãnh đạo. Chính Phủ ra quyết định thành lập Hội đồng cung cấp mặt trận do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm chủ tịch. Quyết định tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ đã trở thành ý chí và hành động của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Phương châm tác chiến ban đầu là “đánh nhanh, thắng nhanh” sau được đổi thành “đánh chắc, thắng chắc” do đánh giá lại tính chất phòng ngự và so sánh lực lượng. Theo kế hoạch, chiến dịch Điện Biên Phủ được bắt đầu từ ngày 13/3 đến 7/5/1954, chia làm 3 giai đoạn:

 Giai đoạn 1 từ ngày 13 đến 17/3/1954: quân ta mưu trí dũng cảm tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam và Độc Lập, bức hàng cứ điểm Bản Kéo, phá vỡ cửa ngõ phía Bắc của tập đoàn cứ điểm; diệt và bắt sống trên 2000 tên địch, phá hủy 25 máy bay, xóa sổ 1 trung đoàn, uy hiếp sân bay Mường Thanh; Pi-rốt, Tư lệnh pháo binh Pháp ở Điện Biên Phủ bất lực trước pháo binh của ta đã dùng lựu đạn tự sát.

Giai đoạn 2 từ ngày 30/3 đến ngày 30/4/1954: quân ta đồng loạt tiến công các cứ điểm phía Đông phân khu trung tâm, thắt chặt vòng vây, chia cắt và liên tục tiến công, kiểm soát sân bay Mường Thanh, hạn chế tiếp viện của địch. Địch hết sức ngoan cố, muốn kéo dài thời gian; Na-va hy vọng đến mùa mưa ta phải cởi vòng vây. Đây là đợt tấn công dai dẳng, dài ngày nhất, quyết liệt nhất, gay go nhất, ta và địch giành giật nhau từng tấc đất, từng đoạn giao thông hào. Đặc biệt tại đồi C1 ta và địch giằng co nhau tới 20 ngày, đồi A1 tới 30 ngày. Sau đợt tấn công thứ 2, khu trung tâm Điện Biên Phủ đã nằm trong tầm bắn các loại súng của ta, quân địch rơi vào tình trạng bị động, mất tinh thần cao độ.

Giai đoạn 3 từ ngày 01/5 đến ngày 07/5/1954: quân ta đánh chiếm các cứ điểm phía Đông và mở đợt tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm. Đêm 6/5/1954, tại đồi A1 trận chiến đấu giữa ta và địch diễn ra quyết liệt, quân ta ào ạt xông lên tiêu diệt các lô cốt và dùng thuốc nổ phá các hầm ngầm. Tên quan Tư chỉ huy đồi A1 và khoảng 400 tên địch còn sống sót đã phải xin đầu hàng. 17 giờ 30 phút ngày 07/5/1954 ta chiếm sở chỉ huy của địch, tướng Đờ-Cát cùng toàn bộ Bộ Tham mưu và binh lính tập đoàn cứ điểm phải ra hàng. Lá cờ “quyết chiến, quyết thắng” của quân đội ta tung bay trên nóc hầm chỉ huy của địch. Ngay trong đêm đó quân ta tiếp tục tiến công phân khu Nam, đánh địch tháo chạy về Thượng Lào, đến 24 giờ toàn bộ quân địch đã bị bắt làm tù binh.

Sau 55 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tiêu diệt và bắt sống 16.200 tên, bắn rơi 62 máy bay, thu 64 ô tô và toàn bộ vũ khí, đạn dược, quân trang quân dụng của địch. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ toàn thắng góp phần quyết định cho thành công của Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương năm 1954.

Ngày 7/5/1964, kỷ niệm 10 năm chiến thắng “chấn động địa cầu”, Bác viết vào Sổ cảm tưởng của Bảo tàng Điện Biên Phủ: “Chiến thắng Điện Biên Phủ là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta mà cũng là thắng lợi chung của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Chiến thắng Điện Biên Phủ càng làm sáng ngời chân lý của Chủ nghĩa Mác-Lênin trong thời đại ngày nay: chiến tranh xâm lược của bọn đế quốc nhất định thất bại; cách mạng giải phóng dân tộc nhất định thành công”. Còn trong bài “Nhân ngày kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ” (ký bút danh Chiến Sĩ) đăng trên Báo Nhân Dân, Bác viết: “Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn... Với tinh thần quyết chiến quyết thắng của Điện Biên Phủ, từ nay về sau nhân dân miền Nam chắc sẽ thắng lợi hơn nữa. Muốn tránh một thất bại như ở Điện Biên Phủ và muốn khỏi mất thể diện, thì đế quốc Mỹ chỉ có một cách là chấm dứt ngay cuộc chiến tranh xâm lược, rút ngay quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, để nhân dân miền Nam tự giải quyết lấy vấn đề nội bộ của mình”.

Chiến thắng Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. “Đã được ghi vào lịch sử như một Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa ở thế kỷ 20 và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi, đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc” (Lê Duẩn).

 Hơn sáu thập niên trôi qua, mảnh đất chiến trường Điện Biên Phủ năm xưa đã dần thay màu “áo mới” trở thành thành phố Điện Biên Phủ. Lòng chảo Điện Biên Phủ bây giờ đã trở thành nền tảng của một thành phố mới, trẻ trung và năng động. Cửa ngõ Him Lam, nơi hoang tàn trong chiến tranh ác liệt, giờ trở thành phường Him Lam thanh bình, tươi đẹp và ngày một phát triển. 

Chiến thắng Điện Biên Phủ là mốc son vàng chói lọi, góp phần khơi dậy lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc nhằm phát huy sức mạnh toàn dân phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay. Đồng thời góp phần khẳng định sự đoàn kết, ủng hộ lẫn nhau giữa các quốc gia, các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới để tiến tới cùng nhau đẩy lùi chiến tranh, tăng cường hợp tác toàn diện để xây dựng một thế giới không có chiến tranh, thế giới của sự hợp tác và cùng phát triển.