| In bài | |
| PHỤ NỮ VIỆT NAM- NGƯỜI VIẾT TIẾP TRANG SỬ VÀNG TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP | |
| Gần tròn một thế kỷ, là mốc đánh dấu quan trọng những thành tựu của phụ nữ Việt Nam trong mọi mặt đời sống kinh tế- xã hội. Ngày nay, phụ nữ Việt Nam tiếp tục không ngừng vươn lên, viết tiếp trang sử vàng trong công cuộc đổi mới và hội nhập, để xứng đáng với lời khen của Bác Hồ kính yêu “từ xưa đến nay, từ Nam chí Bắc, từ trẻ đến già, phụ nữ Việt Nam thật là anh hùng”. | |
|
Một thời gian ngắn sau Cách mạng Tháng Mười, được ánh sáng của Quốc tế Cộng sản soi rọi, đặc biệt là Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin, đã giải đáp trăn trở của Nguyễn Ái Quốc về vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc địa, giải phóng dân tộc Việt Trong các Văn kiện thành lập Ðảng tháng 02/1930, Bác Hồ đã nêu một chủ trương lớn về phương diện xã hội “Nam nữ bình quyền” là một trong những nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam. Tháng 10/1930, Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Án nghị quyết của Trung ương toàn thể hội nghị về Phụ nữ vận động. Án nghị quyết nhấn mạnh: “Lực lượng cách mạng của phụ nữ là một cái lực lượng rất trọng yếu. Nếu quảng đại quần chúng phụ nữ không tham gia vào những cuộc tranh đấu cách mạng thì cách mạng không thắng lợi được. Bởi vậy nên công tác trong quần chúng phụ nữ không phải là một cái nhiệm vụ phụ thuộc của Đảng; công tác ấy chánh là một cái nhiệm vụ lớn và rất trọng yếu”. Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Thấm nhuần tư tưởng và Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, gần 50 năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng và phát triển một cách toàn diện tư tưởng của Người trong công cuộc đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; các tầng lớp phụ nữ đã có nhiều cố gắng nỗ lực để hướng tới sự bình đẳng thực chất cho phụ nữ. Xuyên suốt từ Cương lĩnh Chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 đến các Văn kiện Đảng từ Đại hội VI, Đại hội XII đều đề cập đến vấn đề phụ nữ và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, nhằm phát huy giá trị và vai trò của phụ nữ trong thời đại mới và thời kỳ hội nhập. Dưới góc độ Nhà nước, hệ thống pháp luật về bình đẳng giới đã được hình thành và ngày càng hoàn thiện. Cụ thể, Hiếp pháp 2013 kế thừa và tiếp tục ghi nhận quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử cũng như quy định chính sách của Nhà nước trong việc đảm bảo điều kiện để phụ nữ phát triển. Tiếp đó, Luật bình đẳng giới 2006 ra đời là trung tâm của hệ thống chính sách, pháp luật về bình đẳng giới. Luật đã cụ thể hóa và hệ thống hóa các quy định về bình đẳng nam, nữ trong các văn bản của nhà nước ta, đồng thời thể chế hóa Công ước CEDAW- điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Năm 2011, Bộ chỉ tiêu thống kê phát triển giới của quốc gia đã được ban hành. Bộ chỉ tiêu gồm 105 chỉ tiêu trong 11 lĩnh vực được phân công cho các cơ quan, bộ, ngành, tổ chức chính trị-xã hội thu thập và thống kê. Năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với bộ, ngành đã tiếp tục hoàn thiện và hệ thống hóa công tác trên. Bên cạnh đó, vấn đề bình đẳng giới đã được Ủy ban thẩm tra lồng ghép đối với 63 luật, 03 pháp lệnh và 03 nghị quyết. Trong đó có các đạo luật tiêu biểu như: Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Bộ luật lao động, Luật bảo hiểm xã hội, luật phòng chống bạo lực gia đình, Luật việc làm, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân… Với những nỗ lực cải cách hệ thống chính sách, pháp luật bảo đảm bình đẳng giới như nêu trên, phụ nữ Việt Phụ nữ chiếm tới 51,5% dân số và 48% lực lượng lao động xã hội, phụ nữ Việt Nam ngày càng tham gia nhiều hơn công việc xã hội, bình đẳng hơn trên nhiều lĩnh vực, đóng góp ngày càng lớn cho gia đình và xã hội. Điều kiện sống của đại đa số phụ nữ, trẻ em gái được cải thiện; kiến thức về tổ chức cuộc sống gia đình, về chăm sóc sức khoẻ được nâng lên; tiếp cận dịch vụ y tế tốt hơn nên sức khoẻ tiếp tục được cải thiện, tuổi thọ trung bình tăng (năm 2009 là 75,6 tuổi, năm 2016 là 76 tuổi). Tỷ lệ phụ nữ tham gia Quốc hội khóa XIV (2016-2021) đạt 26,8%, đưa Việt Nam nằm trong nhóm nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao ở khu vực và thế giới. Phụ nữ đảm nhiệm nhiều vị trí lãnh đạo chủ chốt của đất nước như Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch nước, Bộ trưởng; Thứ trưởng. Ở các địa phương, nhiều phụ nữ giữ vai trò chủ chốt ở các cấp, các ngành, góp phần giải quyết các vấn đề quan trọng. Nữ doanh nhân là người dân tộc thiểu số tăng, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số ngày càng được phát huy. Có thể khẳng định rằng, từ truyền thống đến hiện đại, người phụ nữ Việt Nam từ luôn luôn giữ gìn và phát huy những phẩm chất “công, dung, ngôn, hạnh” trong truyền thống đến “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” trong thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc, cho đến “yêu nước, có tri thức, sức khỏe, năng động, sáng tạo, có lối sống văn hóa, có lòng nhân hậu” trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. Đó là một dòng chảy liên tục, có sự kế thừa, phát huy và bồi đắp những giá trị, những phẩm chất mới. Những phẩm chất đó phù hợp với đạo lý, truyền thống văn hóa dân tộc, đồng thời đáp ứng những yêu cầu mà thời đại đặt ra. Nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, vị thế của phụ nữ, Văn kiện Đại hội XII của Đảng xác định phương hướng: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ. Nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện luật pháp, chính sách đối với lao động nữ, tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò và trách nhiệm của mình. Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và xử lý nghiêm minh theo pháp luật các hành vi bạo lực, buôn bán, xâm hại nhân phẩm phụ nữ”. Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XII nhiệm kỳ 2017-2022 đề ra Phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”; 02 cuộc vận động: “Rèn luyện phẩm chất đạo đức: tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang”; “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch” gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã có rất nhiều chủ trương, chính sách nhằm xây dựng và phát triển phụ nữ, song bên cạnh đó, phụ nữ Việt Nam vẫn còn chịu nhiều thiệt thòi, nạn ngược đãi phụ nữ vẫn còn tồn tại ở một số nơi, đặc biệt là ở những vùng, những khu vực trình độ dân trí chưa cao. Chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng Nho giáo, vì vậy định kiến về giới còn tồn tại trong xã hội Việt
|
|
|
Bản quyền ©2022 Chuyển đổi số tỉnh Quảng Ngãi |
|