In bài
Kết luận phiên giải trình của Thường trực HĐND tỉnh
Ngày 10/5/2023, Thường trực HĐND tỉnh ban hành Kết luận số 01/KL-HĐND kết luận phiên giải trình của Thường trực HĐND tỉnh vào sáng ngày 26/4/2023 với một số nội dung chính sau:

Hoạt động giải trình tại phiên họp của Thường trực HĐND tỉnh đã đạt được mục đích, yêu cầu đề ra; nội dung giải trình là những vấn đề quan trọng, có ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế, xã hội và đời sống của người dân, được đại biểu HĐND và cử tri trong tỉnh quan tâm. Lãnh đạo UBND tỉnh và các cơ quan chức năng đã trả lời, giải trình làm rõ cơ bản đầy đủ những vấn đề được đại biểu đặt ra và cùng trao đổi, thảo luận để đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp khắc phục những tồn tại hạn chế nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước thuộc phạm vi phụ trách; đồng thời, thông tin làm rõ thêm thực trạng công tác quản lý ngành, lĩnh vực, qua đó làm sáng tỏ nhiều vấn đề được cử tri và Nhân dân trong tỉnh quan tâm.

Thường trực HĐND tỉnh ghi nhận các giải pháp và cam kết mà lãnh đạo UBND tỉnh và các sở, ngành, địa phương đã trình bày tại phiên giải trình; đồng thời, đề nghị UBND tỉnh cần tiếp tục quan tâm chỉ đạo, thực hiện các nội dung sau:

Đối với công tác dồn điền đổi thửa, đề nghị phát huy kết quả đạt được cũng như khắc phục những khó khăn, vướng mắc, hạn chế; thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đề ra, trong đó chú trọng thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

- Đối với việc chậm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nợ đọng kinh phí trong thực hiện dồn điền đổi thửa của giai đoạn 2013 - 2020, đề nghị xác định rõ trách nhiệm và xây dựng kế hoạch, lộ trình, thời gian cụ thể để thực hiện hoàn thành việc cấp 30.719 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân và giải quyết dứt điểm đối với khoản kinh phí 43 tỷ đồng nợ đọng trong thực hiện dồn điền đổi thửa.

- Hiện nay, nhu cầu dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh còn rất lớn; để tiếp tục thực hiện tốt công tác dồn điền đổi thửa trong thời gian tới, cần xây dựng Đề án dồn điền đi thửa trên cả đất lúa và đất sản xuất nông nghiệp khác; việc thực hiện dồn điền đổi thửa phải đạt được các mục tiêu là: chuyển đổi, dồn ghép ruộng, đất để tập trung ruộng đất có ô thửa lớn, liền vùng, liền thửa, thuận lợi cho việc quy hoạch vùng sản xuất tập trung, thâm canh, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và đưa cơ giới hóa vào sản xuất, tăng hiệu quả sử dụng đất, tạo điều kiện thuận lợi cho người nông dân sản xuất và liên kết với cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp sản xuất theo hướng hàng hóa, nâng cao giá trị, tăng năng suất, giảm chi phí, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người nông dân, bảo đảm việc sử dụng đất một cách có hiệu quả và bền vững. Trong nội dung đề án, chính sách cho giai đoạn mới phải tính toán nhu cầu dồn điền đổi thửa; cơ cấu nguồn lực của các cấp ngân sách (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã) và sự tham gia của người dân, huy động nguồn lực xã hội, ngoài ngân sách để tổ chức thực hiện.

Đối với công tác bảo vệ môi trường, phát triển cây xanh, xây dựng công viên đô thị trong thời gian tới, đề nghị thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp trong lĩnh vực này; trong đó chú trọng thực hiện một số nội dung sau:

- Thực hiện hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền; phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở trong việc tham gia tuyên truyền, vận động, kiểm tra, giám sát, phát hiện, xử lý triệt để các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của doanh nghiệp và người dân trong việc xây dựng ý thức và thực hiện bảo vệ môi trường.

- Trong phát triển kinh tế, phát triển các khu, cụm công nghiệp phải bảo đảm quy hoạch được cấp thẩm quyền phê duyệt; cân nhắc thấu đáo việc cho mở rộng các khu, cụm công nghiệp hiện có hoặc đầu tư mới các khu, cụm công nghiệp ở các địa phương khi tỷ lệ lấp đầy ở các khu, cụm công nghiệp hiện hữu chưa cao; không cấp chủ trương đầu tư cho các dự án mới khi chưa bảo đảm các yêu cầu về đánh giá tác động môi trường. Ưu tiên phát triển công nghiệp ở các ngành, sản phẩm công nghiệp sử dụng công nghệ hiện đại, kỹ thuật tiên tiến kết hợp với bảo vệ môi trường; kiên quyết không phê duyệt, không cho đầu tư các dự án sử dụng công nghệ lạc hậu, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, đảm bảo sự phát triển bền vững.

- Rà soát việc thực hiện công tác quản lý, bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh; có giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc triển khai thực hiện Bộ chỉ số đánh giá kết quả bảo vệ môi trường, nhất là các chỉ số liên quan đến chất lượng môi trường sống của người dân trong tất cả các lĩnh vực như: về nước thải, rác thải, y tế, giáo dục, môi trường đô thị,...

- Nâng cao chất lượng công tác xây dựng, thẩm định, phê duyệt theo thẩm quyền báo cáo đánh giá tác động môi trường, kế hoạch bảo vệ môi trường theo quy định. Đầu tư xây dựng mạng lưới quan trắc môi trường tại các khu vực tập trung nhiều nguồn thải, khu vực nhạy cảm về môi trường. Đối với các dự án theo quy định phải lắp đặt hệ thống quan trắc môi trường tự động, liên tục nhưng chưa lắp đặt, cần rà soát và thực hiện nghiêm việc lắp đặt nhằm thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường.

- Tăng cường thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát xử lý nghiêm đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường; chú trọng kiểm tra đối với các dự án, khu công nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh tiềm ẩn nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường; không để phát sinh sự cố về môi trường.

- Đối với công tác bảo vệ môi trường, phát triển cây xanh ở các đô thị trên địa bàn tỉnh nói chung và ở thành phố Quảng Ngãi riêng, ngành Xây dựng và các địa phương chỉ đạo thực hiện rà soát quy hoạch, phát triển hệ sinh thái cây xanh cho phù hợp, bảo đảm tỷ lệ cây xanh đô thị trên bình quân người dân đạt tiêu chí đề ra; khi phát triển các dự án khu dân cư, khu đô thị cần bố trí tỷ lệ đất trồng cây xanh, đất công viên và không gian sinh hoạt cộng đồng phù hợp; phải bảo đảm hài hòa giữa phát triển đô thị kiến trúc với phát triển cây xanh, tạo cảnh quang môi trường và trật tự đô thị; quan tâm bố trí nguồn lực đầu tư phát triển các công viên cây xanh và các khu vui chơi, giải trí công cộng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, giải trí của người dân. Chỉ đạo xử lý, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở 2 hồ nước điều hòa Bàu Cả và Nghĩa Chánh. Tuyên truyền, nhắc nhở và kiên quyết xử lý đối với các tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường như: xả rác thải không đúng nơi quy định; xả nước thải, khí thải, dầu nhớt thải chưa qua xử lý ra môi trường. Chú trọng bảo vệ cảnh quan, trật tự đô thị, nhằm xây dựng các đô thị trên địa bàn tỉnh ngày càng xanh, sạch, đẹp.

 

 

Đối với việc thực hiện chuyển đổi số, đề nghị thực hiện quyết liệt công tác chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh, trong đó chú trọng thực hiện một số nội dung chính sau:

- Tiếp tục triển khai, thực hiện hiệu quả các nội dung của Kế hoạch số 119/KH-UBND ngày 09/10/2020 của UBND tỉnh về triển khai thực hiện Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 của tỉnh Quảng Ngãi, đặc biệt là cụ thể hóa, triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra nhằm thực hiện hiệu quả công tác chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh.

- Thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chuyển đổi số phải thiết thực, cụ thể và gắn với nhiệm vụ chính trị của từng cơ quan, đơn vị, địa phương. Người đứng đầu các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị, địa phương phải chủ động, tiên phong và chịu trách nhiệm chính, trực tiếp trong việc triển khai thực hiện chuyển đổi số của cơ quan, tổ chức, lĩnh vực, địa bàn mình phụ trách. Tổ chức thực hiện tốt công tác quán triệt, tuyên truyền nâng cao nhận thức và hướng dẫn về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số cho cán bộ, đảng viên, người dân và doanh nghiệp bằng các hình thức phù hợp, gần gũi, dễ thực hiện, nhất là hướng dẫn bằng các clip sinh động, nhằm thu hút nhiều thành phần cùng tham gia, hưởng ứng, lan tỏa thực hiện chuyển đổi số.

- Các cơ quan hành chính nâng cao chất lượng, tăng cường cung cấp dịch vụ công tuyến mức độ 3, 4 cho người dân, doanh nghiệp; có cơ chế khuyến khích trong việc thu phí, lệ phí thực hiện các thủ tục hành chính trực tuyến; tăng tỷ lệ giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường mạng, tăng mức độ hài lòng của người dân khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến.

- Rà soát, củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm nòng cốt trong triển khai thực hiện chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh, gắn với công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ năng lực của đội ngũ này, cũng như có chính sách thu hút, giữ chân nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao trong tham mưu, triển khai thực hiện chuyển đổi số, sẵn sàng tham gia vào quá trình chuyển đổi số của tỉnh.

- Tiếp tục khuyến khích phát triển, hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin, viễn thông trên địa bàn tỉnh; đồng thời, chú trọng công tác bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, an ninh mạng.

- Các cơ quan nhà nước làm cầu nối gắn kết, khuyến khích các danh nghiệp trong thực hiện chuyển đổi số nhằm phục vụ mục đích chung cho phát triển doanh nghiệp và cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương theo mục đích của chính quyền.

- Cần có cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ, hướng dẫn, tạo động lực cho người dân, doanh nghiệp tham gia chuyển đổi số, các doanh nghiệp thực hiện cung cấp sản phẩm, dịch vụ trên các nền tảng số, trong đó xác định người dân, doanh nghiệp là trung tâm. Đồng thời, phải nâng cao dân trí, phát huy hoạt động của các Tổ chuyển đổi số cộng đồng và các tổ chức chính trị, xã hội; đẩy mạnh các hoạt động, dịch vụ có liên quan đến người dân để việc chuyển đổi số diễn ra nhanh chóng.

- Huy động, lồng ghép nguồn lực, đặc biệt là nguồn xã hội hóa, từ các chương trình, đề án có liên quan, nguồn đầu tư của doanh nghiệp, cộng đồng và các nguồn kinh phí hợp pháp khác để thực hiện chuyển đổi số trên địa bàn. Mỗi năm, các cấp ngân sách ưu tiên bố trí nguồn lực thích đáng để triển khai thực hiện các hoạt động, chương trình, đề án phục vụ chuyển đổi số của cấp mình.

Thường trực HĐND tỉnh cũng đề nghị UBND tỉnh và các sở ngành tập trung chỉ đạo, có giải pháp phù hợp để thực hiện những vấn đề đã được Thường trực HĐND tỉnh, đại biểu HĐND tỉnh đặt ra và kết luận tại phiên giải trình, tạo sự chuyển biến cụ thể, rõ nét trong thực tế, từ đó tạo điều kiện thuận lợi nhằm phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm đời sống của người dân. Kết quả chỉ đạo và thực hiện gửi đến Thường trực HĐND tỉnh trước ngày 25/6/2023 để báo cáo HĐND tỉnh tại Kỳ họp thường lệ giữa năm 2023.