Ban biên tập xin đăng tải các câu hỏi và kết quả trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri tại kỳ họp thứ 9, HĐND tỉnh khóa XI về lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp
RSS In Gởi cho bạn bè
.
A A 10/03/2014 03:53:30 PM         

1.1. Cử tri các huyện Mộ Đức, Bình Sơn, Tư Nghĩa, Đức Phổ, Nghĩa Hành tiếp tục phản ánh việc đánh giá xác định chữ đường của Công ty Cổ phần đường Quảng Ngãi không khách quan, có biểu hiện ép nông dân; việc thu mua mía cho nông dân theo thời vụ không đảm bảo gây thất thoát chữ đường, ảnh hưởng đến thu nhập của người dân. Cử tri một số xã thuộc huyện Ba Tơ phản ánh tình trạng Nhà máy đường Phổ Phong thực hiện việc khấu trừ chi phí phân bón không đồng nhất (có hộ 600.000đ/bao, có hộ 1.200.000đ/bao), so với thị trường thì giá cao. Đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo kiểm tra, khắc phục tình trạng trên để nhân dân an tâm sản xuất.

Nhà máy Đường Phổ Phong giải trình một số nội dung sau:

1. Về việc đánh giá xác định chữ đường không khách quan:

Trong vụ sản xuất năm 2012 - 2013, Nhà máy thực hiện việc mua mía theo 2 phương thức:

+ Mua mía chữ đường ( CCS ) tại ruộng: Áp dụng đối với những vùng mía tập trung, thực hiện việc đầu tư chăm sóc theo đúng quy trình kỹ thuật quy định, mía sinh trường phát triển đồng đều. Đối với phương thức thu mua này, trước khi thu hoạch hộ trồng mía  có đơn đề nghị; Trên cơ sở đơn đề nghị, Nhà máy cùng hộ trồng mía và nhóm hộ trưởng lấy mẫu, phân tích chữ đường ( theo quy trình phân tích được niêm yết công khai) và lập biên bản thống nhất mua bán mía theo chữ đường đã thỏa thuận giữa Nhà máy với hộ trồng mía có sự xác nhận của Lãnh đạo địa phương. Hiện tại phương thức này được nông dân đồng tình ủng hộ vì giảm được chi phí thu hoạch và bốc mía lên xe. Chính vì vậy số diện tích được thu mua theo CCS tại ruộng vụ 2012 - 2013 tăng lên đáng kể chiếm gần 80 % tổng sản lượng mía toàn vùng.

+ Mua mía chữ đường ( CCS ) tại Nhà máy:  Áp dụng đối với những vùng mía không mua chữ đường tại ruộng. Nhà máy thực hiện khoan mẫu ngẫu nhiên để lấy mẫu, phân tích CCS tại Nhà máy theo Bản công bố hợp quy số 02 ngày 30/11/2012, công bố Phương pháp xác định các chỉ tiêu của mía nguyên liệu phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật: QCVN 01- 98:2012/ BNNPTNT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia chất lượng mía nguyên liệu. Bản công bố hợp quy này đã được Sở Nông nghiệp và PTNT Tỉnh Quảng Ngãi đồng ý tiếp nhận theo thông báo số 1466/TB-SNN&PTNT ngày 24/9/2012. Quy trình phân tích CCS được niêm yết công khai đảm bảo nhanh, gọn, chính xác. Trong vụ sản xuất 2012 - 213 Chi cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng Tỉnh đã thực hiện giám sát định kỳ 2 lần theo quy định của UBND Tỉnh; Kết quả phân tích giữa Chi cục và Nhà máy thể hiện sự chênh lệch trong phạm vi cho phép.

Với 2 phương thức thu mua mía theo chữ đường nêu trên thể hiện sự minh bạch, khách quan, công khai và có sự thỏa thuận, đồng tình của bà con nông dân và UBND các xã vùng nguyên liệu mía.

2. Về việc thu mua mía cho nông dân theo thời vụ không đảm bảo gây thất thoát đến chữ đường ảnh hưởng đến thu nhập của người dân:

Xuất phát từ định hướng đầu tư phát triển vùng nguyên liệu theo hướng tập trung chuyên canh và áp dụng các giải pháp KH - CN để thâm canh tăng năng suất - chất lượng, nhờ đó sản lượng mía trong toàn Tỉnh tăng và ổn định từ 280.000 - 300.000 tấn/vụ.

Để tiêu thụ hết sản lượng mía và kịp thời vụ cho nông dân trong những năm qua, Nhà máy Đường Phổ Phong tiếp tục đầu tư đổi mới thiết bi, công nghệ nâng công suất ép từ 1.500 tấn/ ngày lên 2.200 tấn/ ngày. Căn cứ vào sản lượng mía toàn Tỉnh và công suất của thiết bị, Nhà máy đã tổ chức vào vụ từ ngày 15/12/2012 và dự kiến kết thúc vụ vào ngày 31/5/2013, tuy nhiên trong quá trình tổ chức thu hoạch có những tác động khách quan như:

- Thiếu nhân công thu hoạch mía trong thời điểm bà con tập trung thu hoạch lúa Đông Xuân và gieo sạ lúa vụ Hè Thu.

- Tại huyện Ba Tơ trong thời điểm tháng 4 và tháng 5 thời tiết bất thường, mưa dông sớm nên thu hoạch không đạt chỉ tiêu kế hoạch hàng ngày của Nhà máy nhất là công tác vận chuyển mía rẫy gặp rất nhiều khó khăn.

- Một số vùng khác khi mía chín, Nhà máy có kế hoạch cho thu hoạch nhưng hộ nông dân không chủ động được nhân công trong thu hoạch phải thuê lao động ngoài như: Các xã huyện Đức Phổ, nhất là Phổ Cường, Phổ Khánh; một số xã huyện Mộ Đức như: Đức Lân, Đức Hòa, Đức Tân…., Bình Khương, Bình Tân  huyện Bình Sơn….

Do những tác động khách quan như trên Nhà máy phải điều chỉnh giảm công suất ép từ 2.200 tấn/ ngày xuống còn 1.500 – 1.700 tấn/ ngày; Nhưng khi đủ điều kiện thu hoạch vận chuyển thì nhu cầu thu hoạch của bà con nông dân tăng trong khi công suất sản xuất  chỉ giới hạn trong khoảng từ 2.000 - 2.200 tấn/ ngày nên gây bức xúc ở một số hộ nông dân là không tránh khỏi.

Những tác động khách quan nêu trên tuy có ảnh hưởng đến công tác thu mua mía của Nhà máy và thu hoạch mía bà con nông dân, nhưng chưa làm ảnh hưởng đến thời vụ thu hoạch và gây thất thoát chữ đường. Nhà máy giải trình vấn đề này như sau: Vụ mía 2011 - 2012 kết thúc sớm trước ngày 10/5/2012, cùng thời điểm này điều kiện thời tiết phù hợp cùng với việc yêu cầu của bà con nông dân, vì vậy Nhà máy vẫn tiếp tục đầu tư cho nông dân trồng mía đến ngày 10/6/2012. Do đó Nhà máy tổ chức thu hoạch theo tiến độ đầu tư và kết thúc vụ vào ngày 10/6/2013 vẫn đảm bảo thời gian mía chín theo quy chuẩn QCVN: 01- 98/ 2012/ Bộ NN và PTNT quy định về tiêu chuẩn mía nguyên liệu nên cũng chưa gây thất thoát đến chữ đường. 

Vấn đề này Nhà máy cũng đã có văn bản số: 158/BC- ĐPP ngày 28/6/2013  “ Về việc báo cáo giải trình tình hình tổ chức thu hoạch mía vụ 2012-2013 ” báo cáo cho Công ty CP Đường Quảng Ngãi và Công ty đã báo cáo Sở NN&PTNT Quảng Ngãi ( đính kèm theo).

3. Việc Nhà máy trừ chi phí phân đầu tư không đồng nhất:

Nhà máy đã cho kiểm tra đối chiếu lại toàn bộ chứng từ gốc về chi phí nợ đầu tư và trả nợ đầu tư của hộ nông dân Đinh Xuân Tôm, cử tri xã Ba Tiêu huyện Ba tơ kiến nghị. Sau khi đối chiếu lại toàn bộ hồ sơ công nợ đầu tư với ông Đinh Xuân Tôm thì ông Tôm đã công nhận có sự nhầm lẫn là cộng cả nợ đầu tư còn lại của vụ trước chưa trả cho Nhà máy  ( vụ 2011 – 2012) vào phần nợ đầu tư phân bón tiếp theo của vụ 2012 - 2013 để trả cho Nhà máy nên giá phân lên trên 1.000.000 đồng/bao (50kg). Sau đó ông Đinh Xuân Tôm đã viết giấy đính chính lại lời phát biểu sai sự thật tại cuộc họp tiếp xúc cử tri ngày 10 tháng 5 năm 2013 và gửi cho HĐND huyện Ba Tơ (Có giấy đính chính lời phát biểu của ông Đinh Xuân Tôm kèm theo giải trình này).

Nhà máy Đường Phổ Phong tiếp thu và giải trình những nội dung mà cử tri phản ảnh, đồng thời qua phản ảnh của bà con nông dân Nhà máy cũng rút ra những kinh nghiệm trong quản lý vùng nguyên liệu mía. Mặt khác trong thời gian đến Nhà máy cần tăng cường phối hợp với lãnh đạo huyện, các xã để giải quyết kịp thời những vướng mắc phát sinh nhằm tạo điều kiện để bà con yên tâm tiếp tục đầu tư phát triển vùng nguyên liệu mía theo hướng hiệu quả bền vũng góp phần thực hiện Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về phát triển nông nghiệp, nông thôn.

 Sở Khoa học Công nghệ trả lời:

Thực hiện Công văn số 1974/UBND-NNTN ngày 03/7/2007 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc công khai quy trình xác định chữ đường.

Trong thời gian từ năm 2007 đến năm 2013, Sở Khoa học và Công nghệ chỉ đạo Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng xây dựng kế hoạch và tiến hành giám sát quy trình xác định chữ đường trong mía nguyên liệu tại Nhà máy đường Quảng Phú và Nhà máy đường Phổ Phong, thuộc Công ty Cổ phần Đường Quảng Ngãi (Đến năm 2011, Nhà máy đường Quảng Phú dừng hoạt động). Chế độ giám sát hàng năm: Giám sát định kỳ 02 lần, đầu vụ và giữa vụ ép và thực hiện giám sát đột xuất tùy tình hình thực tế sản xuất tại nhà máy. Qua giám sát, Sở Khoa học và Công nghệ đã có văn bản báo cáo UBND tỉnh kết quả giám sát việc thực hiện quy trình xác định chữ đường trong mía nguyên liệu tại Nhà máy đường.

Thực hiện Công văn số 3748/UBND-KTTH ngày 20/9/2013 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc nhắc nhở báo cáo giải quyết kiến nghị của cử tri tại kỳ họp thứ 9, HĐND tỉnh khóa XI, Sở Khoa học và Công nghệ báo cáo kết quả giám sát việc thực hiện quy trình xác định chữ đường tại Nhà máy đưòng, như sau:

I. Chế độ và nội dung giám sát

1. Chế độ giám sát:

Vào mỗi vụ ép, Sở Khoa học và Công nghệ đều tiến hành giám sát định kỳ và đột xuất việc thực hiện quy trình xác định chữ đường trong mía nguyên liệu tại các Nhà máy (trung bình thực hiện 5 lần giám sát/01 vụ ép)

2. Nội dung giám sát gồm:

- Kiểm tra tài liệu, máy móc liên quan đến việc xác định chữ đường trong mía nguyên liệu.

- Giám sát nhân viên phân tích chữ đường của Nhà máy trong quá trình xác định chữ đường trong mía nguyên liệu.

- Tiến hành thực hiện phân tích chữ đường trong mía nguyên liệu cùng với nhân viên phân tích chữ đường của Nhà máy.

II. Nhận xét

Qua các lần giám sát từ năm 2007 đến năm 2013, Sở Khoa học và Công nghệ nhận thấy:

1. Về máy móc, thiết bị của Nhà máy liên quan đến việc xác định chữ đường:

- Nhà máy dùng hệ thống khoan mẫu, máy ép thủy lực, máy đo Pol, máy đo  Brix hiện đại, tự động, hoạt động ổn định.

- Máy đo Pol, đo Brix, máy ép thủy lực được kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ và hiệu chuẩn định kỳ trước và trong vụ sản xuất.

2. Về tài liệu:

- Nhà máy đường Phổ Phong đã và đang áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo bộ tiêu chuẩn ISO 9001:2000.

- Công ty Cổ phần Đường Quảng Ngãi đã thực hiện công bố “Quy trình xác định chữ đường trong mía nguyên liệu” phù hợp Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia chất lượng mía nguyên liệu (QCVN 01-98:2012/BNNPTNT) của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tại Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Quảng Ngãi.

- “Quy trình xác định chữ đường trong mía nguyên liệu” được niêm yết công khai trước phòng kiểm tra chữ đường của các Nhà máy.

- Hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc xác định chữ đường trong cả vụ ép được các Nhà máy lưu giữ đầy đủ.

- Các số liệu đo độ Pol, độ Brix, kết quả tính chữ đường của từng chủ mía được lưu đầy đủ, rõ ràng  trong máy tính và hồ sơ lưu giữ. Kết quả tính toán chữ đường lập trình sẵn trong máy tính phù hợp với quy trình xác định chữ đường do Công ty công bố, được đưa ra màn hình máy tính để người dân theo dõi, giám sát.

3. Quá trình xác định chữ đường:

 - Nhân viên phân tích chữ đường của Nhà máy được đào tạo, làm việc chuyên nghiệp, thực hiện đúng quy trình, nhanh chóng và chính xác.

- Trong các đợt giám sát, thực hiện phân tích so sánh trên cùng mẫu nước mía, kết quả phân tích chữ đường do nhân viên của Nhà máy thực hiện trên thiết bị của Nhà máy và do cán bộ của Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thực hiện trên thiết bị của Chi cục luôn phù hợp với nhau (sai số trong phạm vi cho phép).

Qua giám sát, Sở Khoa học và Công nghệ nhận thấy Nhà máy đường đã thực hiện quy trình xác định chữ đường trong mía nguyên liệu (từ khâu tiếp nhận mía đến khâu tính toán kết quả chữ đường, thanh toán cho dân) theo đúng quy trình Công ty đã công bố, thể hiện tính khách quan và minh bạch.

1.2. Cử tri huyện Ba Tơ kiến nghị UBND tỉnh sớm có quyết định giao diện tích rừng phòng hộ 327 thuộc địa bàn xã Ba Trang, xã Ba Khâm cho cơ quan, tổ chức có chức năng quản lý, bảo vệ và sử dụng (hiện nay chưa có đơn vị quản lý); sớm chỉ đạo về kinh phí để thực hiện việc giao diện tích rừng cho tổ chức, hộ gia đình quản lý sản xuất theo Quyết định số 13/QĐ-UBND ngày 06/01/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi.

UBND huyện Ba Tơ trả lời:

1. Về kiến nghị: Sớm có quyết định giao diện tích rừng phòng hộ 327 thuộc địa bàn xã Ba Trang, xã Ba Khâm cho cơ quan, tổ chức có chức năng quản lý, bảo vệ và sử dụng (hiện nay vẫn chưa có đơn vị quản lý):

Căn cứ theo Quyết định 871/QĐ-UBND ngày 23/4/2007 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc phê duyệt kết quả rà soát 3 loại rừng; trên địa bàn 02 xã Ba Trang, Ba Khâm có 367,3 ha đã được UBND tỉnh Quảng Ngãi cho Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Ba Tô thuê đất tại Quyết định 482/QĐ-UBND ngày 13/10/2009. Theo Kết luận thanh tra số 1983/KL-STNMT ngày 28/11/2012 của Sở Tài nguyên và Môi trường: “diện tích 367,3 ha đất rừng phòng hộ quy hoạch chuyển đổi sang đất trồng rừng sản xuất: Công ty có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương thực hiện kiểm tra rà soát lại thực trạng, có báo cáo và đề xuất biện pháp xử lý với UBND tỉnh để có hướng thống nhất chỉ đạo”. Tuy nhiên, ngày 25/12/2012, UBND huyện Ba Tơ có Công văn số 1577/UBND kiến nghị UBND tỉnh thu hồi phần đất này của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Ba Tơ giao cho địa phương để giao đất cho nhân dân thiếu đất sản xuất, nhưng đến nay UBND tỉnh vẫn chưa có ý kiến phản hồi.

Ngoài ra, diện tích đất lâm nghiệp đã chuyển đổi từ rừng phòng hộ sang rừng sản xuất (theo quy hoạch 3 loại rừng) đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn 02 xã Ba Trang, Ba Khâm theo Báo cáo kinh tế kỹ thuật 2007 (đo đạc bản đồ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Ba Tơ năm 2007-2009). Phần diện tích còn lại do UBND xã Ba Trang và Ba Khâm quản lý.

 Như vậy, trên địa bàn xã Ba Trang, Ba Khâm đối với đất lâm nghiệp đều có chủ quản lý, đó là: Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Ba Tơ, hộ gia đình, cá nhân và UBND xã. Ý kiến phản ảnh của cử tri: sớm có quyết định giao diện tích rừng phòng hộ 327 thuộc địa bàn xã Ba Trang, xã Ba Khâm cho cơ quan, tổ chức có chức năng quản lý bảo vệ và sử dụng (hiện nay vẫn chưa có đơn vị quản lý) là không đúng.

2. Về kiến nghị: Sớm chỉ đạo về kinh phí để thực hiện giao diện tích rừng cho tổ chức, hộ gia đình quản lý, sản xuất theo Quyết định số 13/QĐ-UBND ngày 06/01/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi:

Căn cứ Quyết định số 13/QĐ-UBND ngày 06/01/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc phê duyệt Phương án giao rừng, cho thuê rừng huyện Ba Tơ, giai đoạn 2012-2013. Theo đó, nguồn kinh phí trong Quyết định ghi rõ: “sử dụng nguồn kinh phí Chương trình 30a của huyện”. Tuy nhiên, nguồn kinh phí Chương trình 30a của huyện được phân bổ theo 02 nguồn khác nhau là nguồn kinh phí cho đầu tư phát triển và nguồn kinh phí cho sự nghiệp. Do đó, UBND huyện chưa tiến hành phân bổ kinh phí thực hiện Phương án giao rừng, cho thuê rừng huyện Ba Tơ, giai đoạn 2012-2013.

Theo thông báo Kết luận số 137/TB-UBND ngày 10/6/2013 về kết luận của đồng chí Phạm Trường Thọ - Phó Chủ tịch UBND tỉnh tại cuộc họp giao ban tiến độ thực hiện công tác giao rừng, cho thuê rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh; đã chỉ đạo “Về kinh phí khoán chăm sóc, bảo vệ rừng thuộc Chương trình 30a: Giao Sở Tài chính có văn bản tháo gỡ vướng mắc để UBND các huyện triển khai thực hiện.”

1.3. Cử tri huyện Bình Sơn tiếp tục phản ánh ngư trường đánh bắt truyền thống của ngư dân xã Bình Thuận là vịnh Dung Quất nhưng hiện nay bị cấm khai thác đánh bắt để đảm bảo an toàn cho cảng Dung Quất, làm ảnh hưởng đến đời sống nhân dân. Đề nghị tỉnh có chính sách hỗ trợ tiền an sinh xã hội cho nhân dân.

UBND huyện Bình Sơn trả lời:

 Trong thời gian qua, UBND huyện thường xuyên chỉ đạo các cơ quan chức năng của huyện, xã phối hợp với đơn vị quản lý thực hiện tốt công tác đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực hành lang an toàn của Cảng xuất sản phẩm và các công trình thuộc Nhà máy lọc dầu Dung Quất, ngăn chặn ngay từ đầu các ngư dân xâm nhập trái phép, khai thác hải sản (nhất là tôm nhí) tại khu vực này.

UBND tỉnh cũng đã ban hành văn bản 3316/UBND-CNXD ngày 22/11/2011 thống nhất chọn phương án nghiêm cấm không cho ngư dân khai thác tôm, cá trong khu vực hành lang an toàn của Cảng xuất sản phẩm Nhà máy lọc dầu Dung Quất; đồng thời có phương án giải quyết lợi ích hài hòa của ngư dân bị cấm khai thác tại khu vực nêu trên (Nội dung này UBND tỉnh giao UBND huyện Bình Sơn điều tra, khảo sát phối hợp với BQL Khu kinh tế Dung Quất lập phương án hỗ trợ). UBND huyện đã khảo sát và lập phương án hỗ trợ với kinh phí khoảng 13 tỷ đồng và đã báo cáo UBND tỉnh. Tuy nhiên đến nay, Phương án vẫn chưa được phê duyệt và thực hiện. Chính quyền và nhân dân xã Bình Thuận thường xuyên yêu cầu, kiến nghị.

- UBND huyện Bình Sơn đã phối hợp với BQL Khu kinh tế Dung Quất (có sự tham gia góp ý của các Sở, ngành tỉnh) hoàn chỉnh Phương án, báo cáo UBND tỉnh xem xét, giải quyết hỗ trợ cho ngư dân bị cấm khai thác tại trong hành lang an toàn của Cảng xuất sản phẩm Nhà máy lọc dầu Dung Quất, nhưng đến nay UBND tỉnh vẫn chưa có ý kiến chỉ đạo.

1.4. Cử tri huyện Minh Long đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo ngành chức năng kiểm tra, xử lý việc đơn vị đầu tư dự án VLAP cấp sổ đỏ sai, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của nhân dân.

Sở Tài nguyên và Môi trường trả lời:

Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Minh Long được thực hiện đồng loạt, trong thời gian ngắn (theo yêu cầu của Ngân hàng Thế giới từ tháng 8/2010 đến tháng 3/2011), khối lượng lớn (36.423 Giấy); việc đăng ký kê khai, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được kiểm tra, thẩm định đúng quy định, nhưng vẫn còn một số sai sót như: sai số Chứng minh nhân dân, sai chữ họ tên, sai xứ đồng.

Các sai sót nêu trên đã được Sở Tài nguyên và Môi trường chỉ đạo đơn vị thi công thường xuyên phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện Minh Long, UBND các xã để sữa chữa kịp thời; Để khắc phục triệt để các trường hợp sai sót, Ban quản lý Dự án VLAP Quảng Ngãi đã có Công văn số 155/BVAP ngày 29/8/2013 gửi UBND huyện Minh Long, đơn vị thi công và các đơn vị liên quan thực hiện việc rà soát và sửa chữa các sai sót trong quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân. Yêu cầu Phòng Tài nguyên và Môi trường, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện Minh Long, UBND các xã rà soát, tổng hợp các sai sót cần phải chỉnh sửa để đơn vị thi công tiến hành sửa chữa dứt điểm trước ngày 30/9/2013 (theo chỉ đạo của UBND tỉnh tại kết luận số 203/TB-UBND ngày 14/8/2013).

1.5. Cử tri huyện Mộ Đức phản ánh hiện nay trên địa bàn huyện tôm nuôi trên cát bị nhiễm bệnh chết hàng loạt, sản lượng giảm, gây khó khăn cho nhân dân. Đề nghị tỉnh có giải pháp hỗ trợ thiệt hại cho nhân dân, đồng thời tăng thời hạn cho thuê đất nuôi tôm trên cát từ 5 năm lên 10 năm để nhân dân có điều kiện mạnh dạn đầu tư.

Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trả lời:

1. Tình hình dịch bệnh trên địa bàn huyện Mộ Đức:

 Quảng Ngãi có hơn 2.000 ngàn ha diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản, trong đó có hơn 700 ha là nuôi tôm. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, hiệu quả thu được từ nghề nuôi tôm của nhân dân trong tỉnh giảm sút, thua lỗ do dịch bệnh xảy ra và chưa có giải pháp khắc phục. Toàn tỉnh có khoảng 150-200 ha tôm nuôi, riêng huyện Mộ Đức, hàng năm có đến 30-40 ha diện tích bị nhiễm bệnh (chiếm 30% diện tích nuôi).

 Các loại bệnh thường gặp ở tôm chân trắng là bệnh virus đốm trắng (WSSV), bệnh phân trắng và Hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính. Trong đó Hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính mới phát hiện vài năm gần đây. Kết quả nghiên cứu cho thấy tác nhân gây Hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính là do vi khuẩn Vibrio paraheamolyticus, vi khuẩn bị nhiễm bởi một loại thực khuẩn (phage) sinh ra độc tố cực mạnh gây hội chứng AHPNS cho tôm nuôi. Bệnh xuất hiện trên tôm nuôi ngay từ giai đoạn tôm giống, một số yếu tố bất lợi như nhiệt độ, độ mặn, độ PH cao và hàm lượng oxy hòa tan thấp làm cho bệnh AHPNS càng trở nên trầm trọng hơn.

Trước tình hình trên, với chức năng quản lý của ngành, Sở Nông nghiệp và PTNT đã triển khai một số giải pháp nhằm hạn chế sau:

- Đã phối hợp với các địa phương xây dựng lịch thời vụ nuôi tôm nhằm phòng tránh thời tiết bất lợi. Thông qua nhiều kênh thông tin đã phổ biến, tuyên truyền lịch thời vụ đến các địa phương và hộ nuôi thủy sản.

- Thường xuyên phối hợp với phòng Nông nghiệp&PTNT các huyện ven biển kiểm tra tình hình nuôi tôm, dịch bệnh tôm, việc chấp hành lịch thời vụ tại các vùng nuôi tôm trong tỉnh.

- Ban hành các văn bản chỉ đạo về nuôi trồng thủy sản; văn bản về tình hình bệnh tôm và hướng dẫn cách khắc phục.

- Hàng năm tham mưu tỉnh ban hành và triển khai thực hiện kế hoạch phòng chống dịch bệnh động vật thủy sản trên địa bàn tỉnh.

- Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nguồn gốc, xuất xứ giống thúy sản trong tỉnh và mua từ ngoài tỉnh trước khi đưa vào thả nuôi và khuyến cáo người dân không mua, thả giống chất lượng kém, không có nguồn gốc rõ ràng.

2. Về việc đề nghị có giải pháp hỗ trợ thiệt hại cho nhân dân:

 Ngày 09/3/2011, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 353/QĐ-UBND Quy định chế độ tài chính về phòng, chống dịch bệnh cây trồng, vật nuôi, thủy sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Theo đó, có một số quy định về hỗ trợ đối với NTTS như sau:

a. Chi hỗ trợ trực tiếp cho chủ nuôi trồng thủy sản được Nhà nước giao, cho thuê đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nuôi đúng lịch thời vụ theo hướng dẫn của ngành chức năng, có diện tích lồng, bè nuôi trồng thủy sản, hải sản bị thiệt hại từ 30% trở lên. Mức hỗ trợ cụ thể như sau:

-  Diện tích nuôi trồng bị:

+ Thiệt hại từ 30%-50% hỗ trợ 2.000.000 đồng/ha;

+ Thiệt hại từ 50% - 70% hỗ trợ 3.000.000 đồng/ha;

+ Thiệt hại từ 70% - 90% hỗ trợ 4.000.000 đồng/ha;

+ Thiệt hại từ 90% - 100% hỗ trợ 5.000.000 đồng/ha.

- Lồng bè nuôi tôm bị:

+ Thiệt hại từ 30% - 50% hỗ trợ 2.000.000đồng/100m3 lồng;

+ Thiệt hại từ 50% - 70% hỗ trợ 3.000.000 đồng/100m3 lồng;

+ Thiệt hại từ 70% - 90% hỗ trợ 4.000.000 đồng/100m3 lồng;

+ Thiệt hại từ 90% - 1000% hỗ trợ 5.000.000 đồng/100m3 lồng.

Như vậy, cho đến nay, UBND tỉnh đã ban hành chính sách hỗ trợ đối với người dân nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, người dân chưa tiếp cận được phương thức và kinh phí hỗ trợ này. Đề nghị UBND các huyện, xã phổ biến và hướng dẫn cho người dân ở những vùng nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại được biết chính sách này.

UBND huyện Mộ Đức trả lời:

Thực hiện chủ trương phát triển nuôi tôm trên cát, huyện Mộ Đức quy hoạch các vùng đất cát ở các xã ven biển để nuôi tôm trên cát bằng vật liệu chống thấm. Tổng diện tích quy hoạch nuôi tôm trên cát là 127,8ha, trong đó: Cho tổ chức thuê đất là 63 ha, diện tích cho hộ gia đình, cá nhân thuê đất là 64,8 ha (Đức Phong: 37 ha, Đức Minh 23 ha, Đức Thắng 4,8 ha). Từ năm 2007-2008, UBND các xã có quy hoạch nuôi tôm trên cát đã lập phương án cho các hộ dân thuê đất nuôi tôm trên cát với thời gian thuê đất là 5 năm. Trên cơ sở phương án cho thuê đất của xã và Đơn xin thuê đất nuôi tôm trên cát của các hộ dân, UBND huyện Mộ Đức đã quyết định cho các hộ dân thuê đất nuôi tôm trên cát với thời hạn 5 năm.

Trong thời gian tới, trên cơ sở quy định của pháp luật về đất đai và tình hình, điều kiện cụ thể của từng xã, UBND huyện chỉ đạo cho các ngành chức năng và UBND các xã nghiên cứu lập phương án cho các hộ dân thuê đất nuôi tôm trên cát bằng vật liệu chống thấm với thời gian dài hơn để nhân dân an tâm đầu tư phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của huyện nhà, đồng thời huyện sẽ tranh thủ các nguồn vốn để đầu tư hoàn thiện các công trình hạ tầng thiết yếu và tăng cường công tác khắc phục ô nhiễm môi trường, kiểm soát, phòng chống dịch bệnh tôm trong các vùng nuôi tôm trên cát.

 

1.6. Cử tri huyện Tây Trà đề nghị tỉnh chỉ đạo ngành chức năng nghiên cứu điều chỉnh danh mục giống keo dâm hom bằng giống keo tai tượng, vì giống keo dâm hom không phù hợp với địa bàn huyện Tây Trà.

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trả lời:

Việc hỗ trợ giống keo dâm hom cho người dân huyện Tây Trà là thực hiện theo quy định tại điểm đ, mục 6, điều 5 của Quyết định số 274/QĐ-UBND ngày 19/12/2011 của UBND tỉnh Quảng Ngãi "Ban hành quy định một số chính sách hỗ trợ sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi".

Đề nghị của cử tri huyện Tây Trà là hợp lý, Sở Nông nghiệp và PTNT sẽ nghiên cứu tham mưu cho UBND tỉnh điều chỉnh, bổ sung giống keo tai tượng vào danh mục giống cây hỗ trợ theo chính sách hỗ trợ sản xuất của Nghị quyết 30a cho người dân huyện Tây Trà.

1.7. Cử tri nhiều huyện trong tỉnh tiếp tục phản ánh, kiến nghị tỷ lệ được hưởng theo cấp bù thủy lợi phí được tính cho Hợp tác xã nông nghiệp hưởng 35%, Công ty khai thác Công trình thủy lợi hưởng 65%; như vậy mức hưởng của Hợp tác xã nông nghiệp là thấp, ngành chức năng trả lời chưa đúng kiến nghị yêu cầu  của cử tri. Đề nghị UBND tỉnh điều chỉnh tỷ lệ hợp lý.

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trả lời:

Việc thu, quản lý và sử dụng thủy lợi phí Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi (Công ty) và các tổ chức Hợp tác dùng nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi thực hiện theo Quyết định số 64/QĐ-UBND ngày 31/12/2009 của UBND tỉnh Quảng Ngãi ban hành bản quy định về thu, quản lý và sử dụng thủy lợi phí, tiền nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi áp dụng từ ngày 01/01/2009 đến nay thì phần Công ty 65%, phần tổ chức Hợp tác dùng nước là 35% đối với phần thủy lợi phí do Trung ương cấp bù cho tỉnh tính từ Cụm công trình đầu mối đến cống đầu kênh nội đồng.

Ngoài quy định trên, Quyết định số 64/2009/QĐ-UBND ngày 31/12/2009 của UBND tỉnh Quảng Ngãi còn cho phép tổ chức Hợp tác dùng nước được thu thêm đối với tổ chức và cá nhân sử dụng nước không quá 12.000 đồng/sào/vụ đối với các xã, huyện đồng bằng; 6.000 đồng/sào/vụ đối với các xã, huyện miền núi nhằm quản lý, duy tu, bảo dưỡng hệ thống kênh tưới từ cống đầu kênh đến mặt ruộng (tại điểm 3, Điều 3, Chương II của Quyết định số 64/2009/QĐ-UBND ngày 31/12/2009 của UBND tỉnh Quảng Ngãi). Như vậy, cụ thể mức thu, quản lý và sử dụng thủy lợi phí trên 1 ha trồng lúa/vụ của Công ty và Tổ chức hợp tác dùng nước như sau:

1. Mức cấp bù 1 ha đất trồng lúa tưới, tiêu chủ động bằng trọng lực là 824.000đ/ha/vụ, trong đó:

- Phần Công ty được hưởng (65% x 824.000đ) = 535.600 đ/ha/vụ 

- Phần hợp tác xã được hưởng (35% x 824.000 đ) = 288.400 đ/ha/vụ.

2. Phần thu thêm của hợp tác xã cho 1 ha theo Quy định tại điểm 3, điều 3 Chương II của Quyết định số 64/2009/QĐ-UBND ngày 31/12/2009 của UBND tỉnh Quảng Ngãi là:

- Đối với các xã, huyện đồng bằng (12.000 đ/sào/vụ x 20 sào) = 240.000 đ/ha/vụ.

- đối với các xã, huyện miền núi (6.000 đ/sào/vụ x 20 sào) = 120.000 đ/ha/vụ.

3. Như vậy mức thu thủy lợi phí 1ha trồng lúa/1 vụ theo bù thủy lợi phí của Trung ương và thu thêm của của hợp tác xã đối với các xã, huyện đồng bằng sẽ là: (824.000 + 240.000) = 1.064.000 đ/ha/vụ, đối với các xã, huyện miền núi sẽ là: (824.000 +  120.000) =    944.000 đ/ha/vụ được phân chia cụ thể như sau:

a) Đối với các xã, huyện đồng bằng (12.000 đ/sào/vụ x 20 sào) = 240.000 đ/ha/vụ.

- Công ty : 535.600đồng/1.064.000đồng tương ứng với 50,34%, tổng số TLP của 1 ha.

- Hợp tác xã: ( 288.400+240.000) = 528.400đồng/1.064.000đồng tương ứng với 49,66%, tổng số TLP của 1 ha.

b) Đối với các xã, huyện miền núi (6.000 đ/sào/vụ x 20 sào) = 120.000 đ/ha/vụ.

- Công ty : 535.600đồng/944.000đồng tương ứng với 56,7%, tổng số TLP của 1 ha.

- Hợp tác xã: ( 288.400+120.000) = 408.400đồng/944.000đồng tương ứng với 43,3%, tổng số TLP của 1 ha.

Từ số thủy lợi phí Công ty và tổ chức hợp tác được hưởng như trên, cho thấy tỷ lệ % thủy lợi phí được hưởng của hợp tác xã và Công ty là gần tương đương nhau trên tổng số thủy lợi phí của 1 ha được UBND tỉnh cho phép thu tại Quyết định số 64/QĐ-UBND ngày 31/12/2009 của UBND tỉnh Quảng Ngãi chứ không phải tỷ lệ là 35% như cử tri nêu.

Thực tế hiện nay đối với kinh phí bù thủy lợi phí của Trung ương và khoản thủy lợi phí thu thêm của hợp tác xã cũng như phần thủy lợi phí của Công ty được hưởng tính theo Nghị định số 115/2008/NĐ-CP ngày 14/11/2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 143/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ công trình thủy lợi, được áp dụng từ năm 2009 chưa được điều chỉnh tăng như đã nêu trên thì địa phương và Công ty không thể đủ chi phí quản lý và sửa chữa hệ thống công trình thủy lợi được, về lâu dài đề nghị địa phương quan tâm trình xin các cấp thẩm quyền đưa các tuyến kênh hiện tại của địa phương quản lý vào chương trình dự án kiên cố hóa kênh mương.

Vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 67/2012/NĐ-CP ngày 10/9/2012 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 143/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi, thì mức thu thủy lợi phí mới tăng lên so với Nghị định số 115/2008/NĐ-CP ngày 14/11/2008 của Chính phủ khoản trên 20%.

Sở Nông nghiệp và PTNT đã chỉ đạo Chi cục Thủy lợi và PCLB phối hợp với Công ty TNHH một thành viên Khai thác CTTL rà soát, nghiên cứu tham mưu cho UBND tỉnh ban hành quyết định thay thế Quyết định số 64/QĐ-UBND ngày 31/12/2009 về ban hành bản quy định về thu, quản lý và sử dụng thủy lợi phí, tiền nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nhằm thực hiện Nghị định 67/2012/NĐ-CP của Chính phủ.

Để áp nguyện vọng của cử tri trong tỉnh, Sở Nông nghiệp và PTNT đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc nghiên cứu tham mưu cho UBND tỉnh tỷ lệ phân bổ về cấp bù thủy lợi phí giữa Công ty và HTX dùng nước theo hướng phân chia theo số lượng hạng mục công trình quản lý của doanh nghiệp và HTX (phân chia theo chiều dài từng loại kênh, định mức duy tu sửa chữa từng loại kênh, công trình trên kênh…).

1.8. Cử tri trong tỉnh đề nghị tỉnh sớm phân bổ kinh phí thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới để đến năm 2015 đạt 70% đường thôn, đường xã được cứng hóa theo quyết định 39/QĐ-UBND ngày 12/11/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh; cần sớm triển khai kế hoạch vốn cho những xã đang thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2015 đạt tiến độ.

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trả lời:

Xây dựng nông thôn mới là giải pháp quan trọng, có tính chiến lược nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 về Phê duyệt Chương trình MTQG về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020.

Căn cứ Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành Nghị quyết số 27/2011/NQ-HĐND ngày 27/10/2011 về việc thông qua Đề án Phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020; Ủy ban nhân dân tỉnh cũng đã ban hành Quyết định số 238/QĐ-UBND ngày 25/11/2011 về việc phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020. Theo đó, mục tiêu đến năm 2015, Quảng Ngãi phấn đấu có 33 xã đạt tiêu chí nông thôn mới (20% số xã).

Để hỗ trợ nguồn lực cho việc thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh, Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành các Nghị quyết có liên quan, gồm: Nghị quyết số 20/2012/NQ-HĐND ngày 05/10/2012 về việc thông qua Đề án phát triển Giao thông nông thôn thuộc 65 xã đạt tiêu chí về giao thông trong Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Ngãi, giai đoạn 2013-2015; Nghị quyết số 21/2012/NQ-HĐND ngày 05/10/2012 về việc thông qua Đề án kiên cố hóa kênh mương thủy lợi thuộc 33 xã xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Ngãi, giai đoạn 2012-2015; Nghị quyết số 10/2013/NQ-HĐND ngày 10/7/2013 về việc thông qua chính sách hỗ trợ khuyến khích thực hiện chủ trương “dồn điền đổi thửa” đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, giai đoạn 2013 - 2020.

Cụ thể hóa các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành các Quyết định: Quyết định số 35/2012/QĐ-UBND ngày 24/10/2012 về việc phê duyệt Đề án kiên cố hóa kênh mương thủy lợi thuộc 33 xã xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Ngãi, giai đoạn 2012-2015; Quyết định số 39/2012/QĐ-UBND ngày 12/11/2012 về việc phê duyệt Đề án phát triển giao thông nông thôn thuộc 65 xã đạt tiêu chí về giao thông trong Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Ngãi, giai đoạn 2013-2015; Quyết định số 34/2013/QĐ-UBND ngày 07/8/2013 ban hành Quy định chính sách hỗ trợ khuyến khích thực hiện chủ trương “dồn điền đổi thửa” đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, giai đoạn 2013 - 2020.

Ngoài ra, UBND tỉnh còn ban hành Quyết định số 10/2013/QĐ-UBND ngày 07/02/2013 về việc quy định mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước để thực hiện một số nội dung xây dựng nông thôn mới trên địa bàn cấp xã ở tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2013 - 2015.

Riêng tại Quyết định số 39/2012/QĐ-UBND ngày 12/11/2012 về việc phê duyệt Đề án phát triển giao thông nông thôn thuộc 65 xã đạt tiêu chí về giao thông trong Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Ngãi, giai đoạn 2013-2015 đã xác định mục tiêu đến năm 2015 trên địa bàn tỉnh có 65 xã đạt tiêu chí về giao thông (100% đường xã được cứng hóa, 70% đường thôn, ngõ xóm được cứng hóa, 70% đường trục chính nội đồng được cứng hóa).

Trong hơn gần 3 năm triển khai thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, ngân sách các cấp, vốn doanh nghiệp và vốn trong dân đã được huy động để thực hiện xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh cụ thể như sau:

Kết quả huy động nguồn lực 3 năm 2011, 2012, 2013

                                                                                           ĐVT: triệu đồng

TT

Chỉ tiêu

Tổng

số

Trong đó

2011

2012

2013

1

Vốn trực tiếp từ Chương trình MTQG xây dựng NTM

 469.709

   81.918

   122.940

264.851

1.1

Ngân sách Trung ương

50.540

25.000

12.940

12.600

1.2

Ngân sách tỉnh

143.300

2.800

25.000

115.500

1.3

Ngân sách huyện

226.924

40.810

66.000

120.114

1.4

Ngân sách xã

48.945

13.308

19.000

16.637

2

Vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án khác

 

 

 

1.496.547

 

 

 

565.534

 

 

 

707.000

   

224.013

3

Vốn tín dụng

526.510

19.960

281.200

225.350

4

Vốn huy động từ doanh nghiệp

126.218

12.053

85.000

29.165

5

Vốn huy động đóng góp của cộng đồng dân cư

 

 

 

150.407

 

 

 

50.523

 

 

 

62.000

 

 

 

37.884

6

Vốn huy động từ nguồn khác

106.303

15.400

90.200

703

TỔNG SỐ

2.875.694

745.388

1.348.340

781.966

Trong điều kiện khó khăn về vốn do kinh tế suy thoái, kể cả vốn ngân sách các cấp, vốn của doanh nghiệp và vốn trong dân nhưng các địa phương đã tổ chức huy động được các nguồn lực để đầu tư xây dựng nông thôn mới; trong quá trình đầu tư đã có sự tập trung, ưu tiên cho các xã có khả năng đạt tiêu chí nông thôn mới vào năm 2015. Tuy có đa dạng về nguồn lực đầu tư, nhưng vốn đầu tư của mỗi nguồn còn quá ít nên tổng nguồn lực để đầu tư cho chương trình là quá thấp.

Nguồn lực đầu tư cho Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh còn hạn chế là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tiến độ thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh chậm, kết quả thấp, khó có khả năng hoàn thành mục tiêu đã được đề ra tại Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 13/10/2011 của Tỉnh ủy Quảng Ngãi về phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020. 

1.9. Cử tri huyện Nghĩa Hành đề nghị tỉnh tiếp tục quan tâm hỗ trợ kinh phí bảo vệ rừng núi Lớn của thôn Khánh Giang- Trường Lệ, vì trước đây được Dự án KFW6 đầu tư nhưng nay không còn đầu tư, nên kinh phí hỗ trợ bảo vệ rừng không còn nữa.

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trả lời:

Từ năm 2007, Khu vực núi Lớn thuộc 02 thôn Khánh Giang và Trường Lệ, xã Hành Tín Đông, huyện Nghĩa Hành được dự án KfW6 đưa vào mô hình quản lý rừng cộng đồng. Với Tổng kinh phí đầu tư cho 02 mô hình: 607.458.000 đồng (Thôn Trường Lệ: 365.286.000 đồng; thôn Khánh Giang: 242.172.000 đồng), bằng nguồn kinh phí viện trợ không hoàn lại của Ngân hàng Tái thiết Đức thực hiện tổng diện tích 1.012,43 ha (thôn Trường Lệ: 608,81 ha, thôn Khánh Giang: 403,62 ha) với đầu tư ban đầu 100.000 đồng/ha, trong 06 năm. Nguồn kinh phí này được chi trả phụ cấp cho hoạt động của Ban quản lý Lâm nghiệp cộng đồng, bảo vệ rừng và chi hoạt động của Ban quản lý cộng đồng thôn. Hiện nay kinh phí của 02 mô hình trên còn khoảng: 125 triệu đồng, được sử dụng để hàng tháng chi cho hoạt động của BQL Cộng đồng và tổ bảo vệ rừng 02 thôn là 10 triệu đồng. Tính đến khi Dự án kết thúc (năm 2014), khoản tiền đầu tư của 02 mô hình này cũng chi vừa đủ và không có kinh phí để chi cho hoạt động quản lý bảo vệ rừng những năm tiếp theo.

Đây là  mô hình Quản lý rừng cộng đồng thí điểm của Dự án. Qua thời gian thực hiện, nhận thấy rất hiệu quả, đã góp phần nâng cao năng lực tham gia bảo vệ rừng của cộng đồng, hạn chế nạn phá rừng, đốt than….

Để cộng đồng có điều kiện tiếp tục tham gia công tác quản lý, bảo vệ rừng cộng đồng, Sở nông nghiệp và PTNT đề nghị UBND tỉnh xem xét, từ năm 2015 tiếp tục hỗ trợ kinh phí cho cộng đồng 02 thôn bằng nguồn kinh phí Bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh. 

1.10. Cử tri trong tỉnh đã nhiều lần kiến nghị về việc nâng cấp, sửa chữa các tuyến kênh, mương, các hồ, đập cũng như việc xây kè chống sạt lở ven sông, suối cấp bách nhưng việc đầu tư lĩnh vực này còn quá hạn chế. Đề nghị UBND tỉnh có chính sách đầu tư thiết thực cho lĩnh vực này để ổn định đời sống, sản xuất của nhân dân.

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trả lời:

Hiện nay, tình trạng hư hỏng, xuống cấp các công trình thủy lợi; sạt lở hạ lưu các sông, suối lớn trong tỉnh diễn ra ngày càng nhiều, mức độ càng trầm trọng. Nguyên nhân chủ yếu:

- Phần lớn các công trình được xây dựng từ năm 1975-1989 theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm hoặc nhân dân làm nhà nước hỗ trợ”. Bên cạnh đó, kinh phí đầu tư sửa chữa nâng cấp; duy tu sửa chữa thường xuyên quá ít nên nhiều hạng mục công trình đã xuống cấp trầm trọng;

- Công trình đầu mối của các công trình thủy lợi như: tràn xả lũ bị xói lở, nứt gãy và rò rỉ cống lấy nước, thấm qua thân đập, sạt mái thượng hạ lưu đập đất, bồi lắng lòng hồ, sân sau bể tiêu năng bị xói lở, bong tróc mạch vữa đá xây...

- Những tuyến kênh chủ yếu là kênh đất, đi qua vùng đất yếu, cao lanh cát chảy nên thường bị sạt mái, bồi lấp lòng kênh; thấm qua bờ kênh gây trượt mái ngoài. Ngoài ra, do chưa tính toán đầy đủ vấn đề tiêu úng trong quá trình thiết kế tưới nên vào mùa mưa lũ, có nơi nước tràn qua kênh gây xói lở, vỡ kênh, nhất là hệ thống kênh nội đồng và những tuyến kênh nằm trong vùng thoát lũ;

- Số lượng, năng lực của đội ngũ cán bộ trong công tác quản lý, khai thác ở địa phương, các tổ chức hợp tác dùng nước còn hạn chế, chưa được thường xuyên đào tạo, tập huấn nâng cao tay nghề;

- Mưa, lũ diễn biến theo hướng ngày càng phức tạp với tần suất xuất hiện và cường độ ngày càng cao, gây thiệt hại nhiều cho các công trình, đặc biệt là các hồ chứa nước vừa và nhỏ, các tuyến kênh đất....

- Công tác quản lý, bảo vệ và ý thức tham gia của cộng đồng đối với công trình thuỷ lợi chưa được quan tâm thỏa đáng cũng là nguyên nhân không nhỏ gây hư hỏng công trình.

Do nguồn vốn hạn chế, nên trong những năm qua, tỉnh chỉ mới đầu tư xây dựng được một số công trình trọng yếu, kè chống sạt lở những vùng xung yếu, cấp bách.

Với chức năng của ngành, Sở Nông nghiệp và PTNT đã tiến hành:

- Đối với hệ thống kênh mương thuộc công trình thủy lợi Thạch Nham: Đã phối hợp BQL dự án đầu tư và xây dựng thủy lợi 6 (Bộ Nông nghiệp và PTNT) lập đề án nâng cấp, kiên cố hóa các tuyến kênh mương bị hư hỏng, xuống cấp trình Bộ Nông nghiệp và PTNT xem xét quyết định đầu tư trong năm 2014 và các năm tiếp theo.

- Đối với xử lý sạt lở: Phân loại và sắp xếp thứ tự ưu tiên đầu tư xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi theo quy định tại Quy chế xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển ban hành kèm theo Quyết định số 01/2011/QĐ-TTg ngày 04/01/2011 của Chính phủ. 

Trước mắt, để đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản của nhân dân trong mùa mưa bão, đề nghị UBND các huyện, thành phố tổ chức kiểm tra, theo dõi và lập phương án di dời (khi cần thiết) các hộ dân bị ảnh hưởng ra khỏi vùng sạt lở; thường xuyên báo cáo về Ban chỉ huy PCLB&TKCN tỉnh, UBND tỉnh kịp thời theo dõi, chỉ đạo. 

1.11. Cử tri một số huyện miền núi trong tỉnh đề nghị UBND tỉnh thực hiện Quyết định 102/2009/QĐ-TTg ngày 7/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn bằng cách hỗ trợ trực tiếp bằng tiền cho người dân để các hộ chủ động trong việc đầu tư cây, con giống cho phù hợp.

Ban Dân tộc tỉnh trả lời:

1. Về mục tiêu, phạm vi, đối tượng, định mức, phương thức, hình thức thực hiện chính sách

Ngày 07/8/2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn (sau đây gọi tắt là Quyết định 102/2009/QĐ-TTg); ngày 08/01/2010, Ủy ban Dân tộc và Bộ Tài chính ban hành Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-UBDT-BTC hướng dẫn thực hiện Quyết định 102/2009/QĐ-TTg.

Chính sách này đề ra mục tiêu và quy định về phạm vi, đối tượng, định mức, phương thức và hình thức hỗ trợ cụ thể như sau:

a. Về mục tiêu:

- Hỗ trợ đời sống của người dân, góp phần xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội ở vùng khó khăn;

- Hỗ trợ người dân nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và từng bước tiếp cận với sản xuất hàng hóa, thông qua hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi có chất lượng cao.

b. Về phạm vi, đối tượng được hỗ trợ:

Là người dân thuộc hộ nghèo theo chuẩn nghèo do Thủ tướng Chính phủ quy định trong từng giai đoạn, phải được đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú hợp pháp ở vùng khó khăn gồm xã khu vực III; xã, thị trấn khu vực II; xã bãi ngang, xã hải đảo.

c. Về định mức hỗ trợ:

- Đối với người dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn thuộc xã, thị trấn khu vực II, xã bãi ngang, xã hải đảo được hỗ trợ 80.000 đồng/người/năm.

- Đối với người dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn  thuộc xã khu vực III được hỗ trợ 100.000 đồng/người/năm.

d. Về phương thức hỗ trợ: Hỗ trợ trực tiếp.

đ. Về hình thức hỗ trợ: Có hai hình thức hỗ trợ, gồm:

+ Hỗ trợ bằng tiền mặt;

+ Hỗ trợ bằng hiện vật; trong đó gồm: giống cây trồng, giống vật nuôi, thuốc thú y, muối iốt.

2. Về tình hình thực hiện chính sách trên địa bàn tỉnh từ năm 2010 đến nay

a. Năm 2010,  năm đầu tiên tổ chức thực hiện chính sách theo Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg, trên cơ sở quy định của chính sách và theo đề nghị của UBND các huyện; ngày 28/4/2010, Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 606/QĐ-UBND về việc phân bổ kinh phí hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo vùng khó khăn năm 2010 cho các huyện có đối tượng thụ hưởng chính sách để huyện chi hỗ trợ trực tiếp 100% bằng tiền mặt cho người dân, đồng thời quán triệt cho người dân tự mua muối iốt, giống cây trồng, giống vật nuôi, thuốc thú y để phục vụ cho đời sống và phát triển sản xuất theo đúng mục tiêu mà chính sách đề ra. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền hỗ trợ, hầu hết người dân không mua giống cây trồng, giống vật nuôi, thuốc thú y để phục vụ sản xuất, mà đã chi vào các mục đích khác, trái với quy định của chính sách; từ đó dẫn đến việc không có cơ sở để sơ kết, đánh giá hiệu quả việc thực hiện chính sách.

Rút kinh nghiệm trên, hàng năm, UBND tỉnh đã chỉ đạo UBND các huyện tổ chức họp để lấy ý kiến về nhu cầu thực tế của người dân được thụ hưởng chính sách để làm cơ sở đề nghị UBND tỉnh xem xét, quyết định về hình thức hỗ trợ cho phù hợp với thực tế của người dân ở từng địa phương (thôn, xã).

b. Trong năm 2011, trên cơ sở yêu cầu của đa số người dân và đề nghị của UBND các huyện, UBND tỉnh đã quyết định hình thức hỗ trợ như sau:

- Đối với các huyện miền núi:

+ Hỗ trợ muối iốt cho 100% người dân(02 kg/người/năm);

+ Số tiền còn lại sau khi đã chi mua muối iốt được chi hỗ trợ như sau:

Chi mua giống cây trồng, giống vật nuôi, thuốc thú y để hỗ trợ phục vụ sản xuất;

Đối với những người dân thuộc hộ nghèo neo đơn, không nơi nương tựa, không còn khả năng lao động thì được hỗ trợ 100% bằng tiền mặt còn lại trong định mức.

- Đối với các huyện Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Bình Sơn và Lý Sơn, hỗ trợ trực tiếp 100% bằng tiền mặt cho người dân được thụ hưởng chính sách và giao cho huyện hướng dẫn người dân sử dụng tiền được hỗ trợ đúng mục đích, phù hợp với kế hoạch sản xuất của địa phương để phát huy hiệu quả cao nhất.

c. Từ năm 2012 đến nay, để tạo điều kiện cho UBND các huyện chủ động trong việc xem xét, quyết định hình thức hỗ trợ cho người dân, hàng năm UBND tỉnh đã quyết định những nội dung chủ yếu sau đây:

- Đối với các huyện miền núi:

+ Hỗ trợ muối iốt cho 100% người dân (Từ 03 đến 05kg/người/năm);

+ Số tiền còn lại sau khi đã chi mua muối iốt được chi hỗ trợ như sau:

Đối với những người dân thuộc hộ nghèo neo đơn, không nơi nương tựa, không còn khả năng lao động thì được hỗ trợ 100% bằng tiền mặt còn lại trong định mức.

Phần kinh phí còn lại trong định mức sau khi đã mua muối iốt, giao UBND huyện căn cứ vào ý kiến đề nghị của đa số người dân và tình hình thực tế của từng địa phương để xem xét, quyết định lựa chọn hình thức hỗ trợ bằng tiền mặt hoặc hiện vật.

- Đối với các huyện Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Bình Sơn và Lý Sơn, hỗ trợ trực tiếp 100% bằng tiền mặt cho người dân được thụ hưởng chính sách và giao cho UBND huyện hướng dẫn người dân sử dụng tiền được hỗ trợ đúng mục đích, phù hợp với kế hoạch sản xuất để phát huy hiệu quả cao nhất.

Tại Quyết định số 153/QĐ-UBND ngày 24/01/2013 của Chủ tịch UBND tỉnh Phê duyệt Kế hoạch thực hiện chính sách theo Quyết định 102/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ năm 2013, có giao nhiệm vụ cho UBND các huyện có đối tượng thụ hưởng chính sách phải xây dựng và phê duyệt Phương án thực hiện, trong đó có yêu cầu:

"(Hồ sơ kèm theo để huyện Phê duyệt Phương án tổ chức thực hiện Chính sách phải bao gồm:

- Danh sách số người trong hộ nghèo được thụ hưởng Chính sách do UBND xã tổng hợp và xác nhận;

- Biên bản họp xét lấy ý kiến của đối tượng thụ hưởng về hình thức hỗ trợ khi lập Phương án tổ chức thực hiện Chính sách, việc tổ chức họp lấy ý kiến được tiến hành khi có đủ 2/3 số hộ được thụ hưởng Chính sách tham dự;

- Báo cáo của UBND các xã tổng hợp nhu cầu của người dân được thụ hưởng chính sách)"

 

Ngọc Hải – Quốc Tuấn (Tổng hợp)
Ý kiến của bạn:
 
Đồng ý gửi     Gửi Nhập lại