5.1. Cử tri huyện Mộ Đức phản ánh Tuyến đường Bồ Đề - Đức Lợi - Mỹ Á là trục đường chính chạy qua nhiều xã, lượng xe qua lại rất lớn, thường xuyên xảy ra tai nạn giao thông. Đề nghị tỉnh sớm xem xét đầu tư nâng cấp mở rộng, tạo điều kiện cho nhân dân đi lại được an toàn.
Trả lời:
Tuyến Bồ Đề - Đức Lợi - Mỹ Á được đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng năm 2003, với quy mô đường cấp VI (nền đường rộng 6,0m, mặt đường rộng 3,5m, kết cấu mặt đường bằng đá dăm láng nhựa). Sau hơn 10 năm khai thác trên tuyến đã xuất hiện nhiều vị trí hư hỏng, bên cạnh đó tình hình kinh tế - xã hội của các huyện: Mộ Đức và Đức Phổ đã có bước phát triển nên lượng người và phương tiện tham gia giao thông trên tuyến ngày càng cao, trong khi đó mặt đường của tuyến thì hẹp (chỉ có 3,5m).
Trong những năm vừa qua, Sở Giao thông vận tải đã trình UBND tỉnh cho chủ trương đầu tư nâng cấp, mở rộng tuyến đường này, nhưng do ngân sách tỉnh còn hạn chế nên đến nay tuyến đường này vẫn chưa được ghi danh mục chuẩn bị đầu tư. Trước tình hình đó, những năm vừa qua Sở Giao thông vận tải đã sử dụng kết hợp nhiều nguồn vốn: Sự nghiệp giao thông, khắc phục lũ lụt, kinh phí xử phạt hành chính trong lĩnh vực an toàn giao thông để sửa chữa khắc phục kịp thời các hư hỏng của nền, mặt đường, bổ sung cọc tiêu, biển báo hiệu đường bộ, đèn cảnh báo giao thông (đèn chớp vàng) ... nên đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu đi lại của người và phương tiện tham gia giao thông.
5.2. Cử tri huyện Nghĩa Hành phản ánh Cầu Suối Lim (xã Hành Tín Đông) hiện nay đã xuống cấp; hệ thống cống thoát nước đường tỉnh lộ 624B đoạn đi qua thôn Ba Bình, Xuân Đình xã Hành Thịnh và đoạn Chợ Phú Lâm Tây xã Hành Thiện không phát huy hiệu quả. Đề nghị tỉnh quan tâm xem xét, giải quyết.
Sở Giao thông vận tải trả lời:
- Về nội dung cầu suối Lim đã xuống cấp: Cầu suối Lim tại Km21+724, tuyến ĐT.624B (Quán Lát – Đá Chát), thuộc địa phận xã Hành Tín Đông, huyện Nghĩa Hành được đầu tư xây dựng từ năm 2000; qua gần 13 năm đưa vào khai thác sử dụng, đến nay đường đầu cầu và mặt cầu đã bị hư hỏng, bong tróc. Vừa qua, Sở Giao thông vận tải đã sử dụng nguồn vốn Sự nghiệp giao thông để khắc phục tình trạng nêu trên.
- Về nội dung hệ thống cống thoát nước đoạn đi qua thôn Ba Bình, Xuân Đình xã Hành Thịnh không phát huy hiệu quả:
Các cống thoát nước ngang trên tuyến đường tỉnh ĐT.624B (Quán Lát – Đá Chát) đoạn qua các thôn: Ba Bình, Xuân Đình, xã Hành Thịnh được đầu tư xây dựng khi tuyến đường này còn là đường huyện (chuyển thành đường tỉnh từ ngày 01/01/2001). Năm 2002, từ nguồn vốn ADB (do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm chủ đầu tư) đã tiến hành đầu tư nâng cấp mặt đường (không đầu tư công trình thoát nước); các cống nhỏ (kích thước 20cm x 40cm) trên đoạn tuyến chủ yếu phục vụ tưới tiêu, đến nay đã bị vùi lấp, hư hỏng.
Trong thời gian qua, mặc dù đã cố gắng khắc phục nhưng do nguồn kinh phí còn hạn chế nên Sở Giao thông vận tải mới chỉ đầu tư xây dựng được 03 cống thoát nước D30 tại các lý trình Km7+020, Km7+810 và Km8+020. Trong thời gian đến, Sở Giao thông vận tải sẽ tiếp tục tổ chức kiểm tra, khảo sát hiện trường để đầu tư xây dựng các cống thoát nước trên đoạn tuyến này cho phù hợp thực tế.
- Về nội dung hệ thống thoát nước đoạn qua chợ Phú Lâm, xã Hành Thiện không phát huy hiệu quả: Năm 2013, từ nguồn vốn Sự nghiệp giao thông, Sở Giao thông vận tải đã thực hiện đầu tư xây dựng hệ thống thoát nước dọc hai bên tuyến đường tỉnh Quảng Ngãi – Minh Long (ĐT.624), đoạn lý trình Km16+600 – Km16+800 để thoát nước khu dân cư qua chợ Phú Lâm. Đến nay công trình đã hoàn thành đảm bảo thoát nước mặt đường tại khu vực này vào mùa mưa lũ.
5.3. Cử tri huyện Đức phổ phản ánh hiện nay Tiểu dự án Trà Câu xây dựng tuyến kênh mương N2 Liệt Sơn đoạn trên thôn Hòa Thạnh, xã Phổ Hòa, mương bêtông có vách cao trên 1,4m, dài 1km không có nắp đậy, không có lối thoát từ đáy mương. Đề nghị tỉnh chỉ đạo ngành chức năng bổ sung nắp đậy hoặc lối thoát hiểm để đảm bảo an toàn cho người và gia súc.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trả lời:
Tuyến kênh N2 Liệt Sơn đoạn qua thôn Hòa Thạnh, xã Phổ Hòa, huyện Đức Phổ (từ K2+097,05-:-K2+895,05) thuộc Tiểu dự án Trà Câu, tỉnh Quảng Ngãi được thi công xây dựng và hoàn thành tháng 6/2012. Hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công của kênh N2 được Chủ đầu tư (Sở Nông nghiệp và PTNT Quảng Ngãi) phê duyệt. Theo đó, đoạn kênh này có kết cấu bê tông cốt thép M200, mặt cắt ngang dạng hình chữ nhật, kích thước mặt cắt ngang bxh=(1,5x1,7)m, cứ 2,5m bố trí 01 thanh giằng bê tông cốt thép theo suốt chiều dài đoạn kênh, chiều rộng bờ kênh b=1,25m, giữ nguyên hiện trạng 02 cầu qua kênh tại vị trí K2+097,05 và K2+392.
Đoạn kênh không đi qua khu dân cư. Với phía bờ hữu là núi, phía bờ tả là ruộng lúa, việc chọn giải pháp thiết kế kênh không có nắp đậy là phù hợp với thực tế.
Trong quá trình xây dựng, đơn vị thi công đã làm đúng theo hồ sơ thiết kế được duyệt và Chủ đầu tư đã chính thức bàn giao cho Công ty TNHH một thành viên Khai thác công trình Thủy lợi Quảng Ngãi quản lý, khai thác, sử dụng từ tháng 8/2012.
Qua kiểm tra hiện trạng, Sở Nông nghiệp và PTNT nhận thấy việc bổ sung nắp đậy hoặc lối thoát từ đáy mương là không cần thiết, sẽ gây khó khăn cho việc quản lý, vận hành và nạo vét kênh mương sau này.
5.4. Cử tri huyện Ba Tơ phản ánh việc xây dựng tuyến đường trên địa bàn huyện nên cứng hóa để tránh tình trạng sạt lở, mau xuống cấp; cứng hóa tuyến đường DT- 625, suối Loa - Ba Điền - Minh Long - Sơn Kỳ. Đối với tuyến quốc lộ 24 cần nâng cấp đoạn km8 – km32; khắc phục kịp thời tình trạng sạt lở đoạn đầu cầu suối Na, xã Ba Ngạc.
Sở Giao thông vận tải trả lời:
- Đối với kiến nghị việc xây dựng tuyến đường trên địa bàn huyện nên cứng hoá để tránh tình trạng sạt lở, mau xuống cấp
Trong những năm qua, UBND tỉnh đã sử dụng kết hợp nhiều Chương trình, nguồn vốn khác nhau ... để tập trung đầu tư hạ tầng giao thông trên địa bàn tỉnh, nhất là các huyện miền núi như: Chương trình 30a, Đề án phát triển giao thông nông thôn; các nguồn vốn như: Ngân sách trung ương, ngân sách địa phương, trái phiếu Chính phủ; vốn ODA (chương trình hạ tầng nông thôn dựa vào cộng đồng của WB, Chương trình giảm nghèo Miền trung của ADB hay Giao thông nông thôn của Ngân hàng thế giới WB), …. Nên hệ thống đường giao thông nông thôn đã có sự thay đổi đáng kể, không chỉ về số lượng mà còn cả về chất lượng; nhiều tuyến đường từ trung tâm các huyện về đến tận thôn xóm đã được hình thành nên đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại của nhân dân, góp phần phát triển văn hóa, xã hội, xói đói giảm nghèo.
Tuy nhiên, do hệ thống hạ tầng giao thông của tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế, thấp kém (cả về quy mô lẫn chất lượng kết cấu mặt đường) so với các địa phương trong khu vực, nên hệ thống đường giao thông đặc biệt là giao thông nông thôn chưa được cứng hóa mà nền đường đất và cấp phối còn chiếm tỉ lệ cao, do vậy tình trạng sạt lỡ, mau xuống cấp thường xảy ra, nhất là vào mùa mưa bão. Bên cạnh đó, tiêu chuẩn kỹ thuật của phần lớn các tuyến đường giao thông nông thôn còn thấp, chủ yếu là đường chỉ có 01 làn xe, mặt đường hẹp, tầm nhìn hạn chế, độ dốc cao và nguy hiểm, tải trọng thấp, cầu cống chưa đồng bộ với đường.
Với trách nhiệm là cơ quan quản lý nhà nước về giao thông vận tải trên địa bàn tỉnh, Sở Giao thông vận tải đã tham mưu cho UBND tỉnh và định hướng cho UBND các huyện, nhất là các huyện miền núi trong việc sử dụng kết cấu áo đường bằng bê tông xi măng để đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông của địa phương nhằm khắc phục tình trạng xói lỡ nền, mặt đường và đảm bảo việc đi lại của nhân dân được thuận lợi.
- Đối với kiến nghị cứng hoá tuyến đường ĐT.625:
Dự án: Đường tránh lũ, cứu hộ, cứu nạn các huyện vùng Tây Quảng Ngãi (Ba Tơ – Minh Long – Sơn Hà) được Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 205/QĐ-UBND ngày 29/01/2011 do UBND tỉnh làm Chủ đầu tư, giao cho Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng tỉnh điều hành Dự án, đến ngày 10/4/2012 Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành quyết định giải thể Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng tỉnh và giao Dự án này cho Sở Giao thông vận tải làm Chủ đầu tư tại Quyết định số 821/QĐ-UBND ngày 30/5/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh;
Sau khi nhận nhiệm vụ Chủ đầu tư Dự án, Sở Giao thông vận tải đã tích cực tham mưu cho UBND tỉnh làm việc với Bộ, ngành trung ương để bố trí vốn thực hiện đầu tư Dự án nhưng chưa có kết quả.
Nhân chuyến thăm và làm việc với Lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 13/9/2013 của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, UBND tỉnh đã kiến nghị với Thủ tướng xem xét, bố trí vốn để thực hiện đầu tư Dự án (tại Báo cáo số 171/BC-UBND ngày 10/9/2013 của UBND tỉnh). Do đó, trong thời gian tới nếu được Thủ tướng Chính phủ quan tâm bố trí vốn đầu tư, Sở Giao thông vận tải sẽ tích cực phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan có liên quan để tổ chức triển khai sớm Dự án này nhằm đáp ứng nguyện vọng của nhân dân.
- Đối với kiến nghị nâng cấp đoạn Km8 – Km32, Quốc lộ 24: Dự án đầu tư nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 24 đoạn Km8 – Km165 được Bô trưởng Bộ Giao thông vận tải phê duyệt tại Quyết định số 1380/QĐ-BGTVT ngày 21/5/2009, do Tổng cục Đường bộ Việt Nam làm Chủ đầu tư, từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ. Tuy nhiên, sau khi các Bộ: Giao thông vận tải, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính rà soát các dự án đầu tư theo tiêu chí của Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ và Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ thì dự án này nằm trong danh mục phải tạm dừng, giãn tiến độ sau năm 2015 (theo văn bản số 653/BGTVT-KHĐT ngày 18/01/2013 của Bộ Giao thông vận tải). Vào ngày 29/3/2013, tại buổi làm với Lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi, Sở Giao thông vận tải đã tham mưu cho UBND tỉnh kiến nghị với Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải xem xét ưu tiên đầu tư nâng cấp, mở rộng đoạn Km8 – Km32 để đáp nguyện vọng của cử tri huyện Ba Tơ cũng như góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải đã ghi nhận và sẽ cân đối vốn khi có nguồn, đồng thời cũng đã cho chủ trương sửa chữa, khắc phục các hư hỏng nền, mặt đường nhằm đảm bảo êm thuận trên toàn tuyến.
- Đối với kiến nghị khắc phục kịp thời tình trạng sạt lở đoạn cầu suối Na, xã Ba Ngạc (đồi Hoàng Rấc, tại lý trình Km103+300, tuyến Quốc lộ 24B, thuộc xã Ba Ngạc, huyện Ba Tơ).
Trong thời gian qua, Sở Giao thông vận tải đã chỉ đạo đơn vị quản lý tuyến đường hốt dọn khối lượng đất, đá tràn ra mặt đường; đồng thời bố trí đầy đủ biển báo hiệu tại vị trí sạt lở để cảnh báo cho người và phương tiện khi tham gia giao thông qua đoạn đường này.
Sau khi sạt lỡ, Sở Giao thông vận tải đã đề nghị Tổng cục Đường bộ Việt Nam báo cáo Bộ Giao thông vận tải cho chủ trương xử lý, khắc phục và kiến cố hoá vị trí sạt lỡ này. Ngày 23/8/2013, Bộ Giao thông vận tải đã thống nhất cho phép xử lý sạt lở tại đồi Hoàng Rắc tại Công văn số 8739/BGTVT-KCHT ngày 23/8/2013. Hiện nay, Sở Giao thông vận tải đang tổ chức khảo sát, lập hồ sơ báo cáo kinh tế kỹ thuật để đề nghị Tổng cục Đường bộ Việt Nam phê duyệt và dự kiến triển khai thi công xử lý khắc phục công trình này hoàn thành vào quý I năm 2014.
5.5. Cử tri huyện Nghĩa Hành kiến nghị tỉnh sớm đầu tư ngân sách năm 2013 để huyện thực hiện dự án tuyến đường Trung tâm thị trấn Chợ Chùa.
UBND huyện Nghĩa Hành trả lời:
Dự án đường Trung tâm thị trấn Chợ Chùa được tỉnh cho đầu tư xây dựng và phê duyệt dự án vào ngày 28/10/2011 nhưng đến nay chưa cấp kinh phí để xây dựng. Hiện nay huyện Nghĩa Hành đang chờ vốn phân bổ của Tỉnh để thực hiện dự án này.
5.6. Cử tri huyện Mộ Đức đề nghị tỉnh quan tâm hỗ trợ kinh phí trả nợ cho các công trình tuyến đường ngã tư Vinh Phú - Trạm Biên phòng và Trường tiểu học Đức Lợi, đây là các công trình do Công ty saphia đầu tư trước đây nay còn dở dang.
UBND huyện Mộ Đức trả lời:
Trong năm 2010, UBND tỉnh đã giao cho Công ty Cổ phần Saphia Quốc tế thực hiện Dự án: Nạo vét, thông luồng tận thu cát nhiễm mặn xuất khẩu tại xã Đức Lợi, huyện Mộ Đức. Do đó, UBND tỉnh đã bố trí từ nguồn thu thuế Tài nguyên của Công ty Saphia Quốc tế để cân đối cho ngân sách huyện Mộ Đức năm 2010 tại Quyết định số 606/ QĐ-UBND ngày 11/12/2009 là 5.500 triệu đồng để ưu tiên bố trí đầu tư XDCSHT tại xã Đức Lợi, gồm 02 công trình: Trường Tiểu học Đức Lợi và Tuyến đường Ngã Tư Vinh Phú - Trạm Biên phòng Đức Lợi theo Quyết định số 254/QĐ-UBND, ngày 30/6/2009 của UBND tỉnh Quảng ngãi. UBND huyện đã triển khai thực hiện xây dựng các công trình trên theo đúng kế hoạch đề ra nhưng mãi đến tháng 8 năm 2010, ngân sách tỉnh vẫn chưa bố trí kinh phí để địa phương thanh toán chi phí xây dựng công trình.
Đến ngày 31/8/2010, UBND tỉnh Quảng Ngãi ban hành Công văn số 2565/UBND-NNTN, về việc xử lý tồn tại các dự án nạo vét, tận thu cát nhiễm mặn khơi thông luồng lạch trên địa bàn tỉnh, do đồng chí Trương Ngọc Nhi - Phó Chủ tịch UBND tỉnh ký, chỉ đạo: “Đối với các công trình đang thi công dở dang đề nghị Công ty bàn giao Hồ sơ cho UBND huyện Mộ Đức. UBND huyện tổ chức tiếp nhận và nghiên cứu khai thác, sử dụng, không để lãng phí. Thời gian hoàn thành trước ngày 30/9/2010…. Riêng các công trình trường học, giao thông, UBND huyện Mộ Đức tiếp tục ứng vốn để hoàn thành dứt điểm trong năm 2010”. Do đó, để giải quyết tồn tại các công trình trên theo chỉ đạo của UBND tỉnh, UBND huyện đã tạm ứng kinh phí ngân sách huyện: 2.000 triệu đồng và Công ty Cổ phần Saphia hỗ trợ: 715,919 triệu đồng chi tạm ứng cho các đơn vị thi công để có điều kiện thi công hoàn thành công trình. Các công trình trên đã hoàn thành đưa vào sử dụng đúng mục đích và được Chủ tịch UBND huyện phê duyệt quyết toán vốn đầu tư hoàn thành 2 công trình trên, với tổng giá trị là 3.367,782 triệu đồng. Trong đó:
1. Công trình: Đường giao thông nông thôn, tuyến: Ngã tư Vinh Phú - Trạm Biên Phòng, xã Đức Lợi; hạng mục: Nền, mặt đường; lý trình: Km0-Km2+403 tại Quyết định số 884/QĐ-UBND, ngày 20/4/2012, với tổng giá trị là: 1.680,723 triệu đồng;
2. Công trình: Trường Tiểu học Đức Lợi; hạng mục: Nhà lớp học 06 phòng tại Quyết định số 981/QĐ-UBND, ngày 25/4/2012, với tổng giá trị là: 1.687,059triệu đồng.
Đến nay, UBND huyện không có nguồn để thanh toán trả nợ cho 2 công trình này từ nguồn thu thuế Tài nguyên của Công ty Cổ phần Saphia Quốc tế, được UBND tỉnh giao tại Quyết định số 606/QĐ-UBND, ngày 11/12/2009 (đã trừ kinh phí hỗ trợ của Công ty Cổ phần SaPhia là 715,919 triệu đồng), với tổng số tiền là 2.651,863 triệu đồng. Hơn nữa, trong các năm qua nguồn thu ngân sách huyện không đảm bảo cân đối hoạt động và đầu tư XDCB theo kế hoạch đề ra. Do đó, địa phương không có nguồn để trả nợ các công trình trên và hàng năm đều có công văn đề nghị UBND tỉnh, các Sở: Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư tỉnh xem xét, nhưng chưa được hỗ trợ. Do đó, kinh phí nợ đầu tư xây dựng các công trình trên còn tồn đọng mãi đến nay chưa thanh toán cho các đơn vị thi công.
5.7. Cử tri huyện Mộ Đức kiến nghị tỉnh sớm có chủ trương xây dựng Dự án thoát lũ mùa đông cho các xã phía đông huyện Mộ Đức, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân ở đây canh tác thuận lợi hơn, tránh tình trạng ngập úng kéo dài, gây thiệt hại nông sản của nhân dân.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trả lời:
Việc ngập úng đối với khu dân, đất sản xuất vùng phía Đông huyện Mộ Đức có nhiều nguyên nhân như: Xây dựng hạ tầng giao thông, hạ tầng khu dân cư trong vùng chưa phù hợp, hệ thống tiêu thoát nước mưa bị bồi lấp, chưa được đầu tư hoàn chỉnh ... dẫn đến tình trạng ngập úng nêu trên.
Trong thời gian đến, Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp cùng các Sở: Kế hoạch và Đầu tư, Giao thông Vận tải, Xây dựng và chính quyền địa phương khảo sát đánh giá hiện trạng, tìm hiểu nguyên nhân để đề xuất UBND tỉnh xem xét, chỉ đạo.
5.8. Cử tri huyện Đức Phổ phản ánh việc thiết kế thi công hệ thống tuyến kênh Núi Ngang chưa phù hợp vì ở đầu tuyến kênh độ dốc quá lớn, đoạn giữa kênh thấp, vùng sản xuất nông nhiệp ở cuối kênh không đủ nước tưới. Đề nghị tỉnh chỉ đạo Công ty TNHH một thành viên Khai thác CTTL Quảng Ngãi sớm kiểm tra khắc phục.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trả lời:
Tuyến kênh cử tri huyện Đức Phổ phản ánh là tuyến kênh B2 Núi Ngang tưới cho hai xã Phổ Phong và Phổ Thuận huyện Đức Phổ. Trong quá trình thiết kế và thi công tuyến kênh B2 Núi Ngang có những đặc điểm như sau:
- Tuyến kênh B2 Núi Ngang đoạn đầu từ K0 đến cống qua đường số 2 tại K0+900, thiết kế tận dụng cống qua đường cũ tại K0+900 có cao độ đáy cống qua đường cũ cao hơn đáy kênh thiết kế 0,32 mét;
- Đoạn kênh dẫn để tưới cho xã Phổ Thuận tại cuối kênh chưa có và nhân dân địa phương trong quá trình thi công tự ý đặt lù bộng dọc theo tuyến kênh;
- Trong khi tưới nhân dân địa phương tự ý làm bờ cản trong lòng kênh lấy nước tùy tiện để tưới.
Từ 3 đặc điểm trên nên lưu lượng nước đưa về cuối kênh không đủ phục vụ tưới cho xã Phổ Thuận ở cuối kênh như phản ánh của cử tri tri huyện Đức Phổ là đúng thực tế.
Để khắc phục tình trạng nêu trên, Công ty TNHH MTV Khai thác CTTL Quảng Ngãi đã xử lý như sau:
- Công ty đã tổ chức kiểm tra, đo đạc thực tế thi công tại hiện trường và đã yêu cầu đơn vị thi công sửa chữa, khắc phục các tồn tại do thi công gây ra và đã được đơn vị thi công khắc phục xong các tồn tại. Đến nay, tuyến kênh này có độ dốc và cao độ đúng theo thiết kế;
- Làm mới cống qua đường tại K0+900 có cao độ đáy cống đúng với cao độ đáy kênh thiết kế;
- Kéo dài đoạn kênh tưới cuối kênh dài 111 mét để tưới cho xã Phổ Thuận;
- Phối hợp với UBND hai xã Phổ Phong và Phổ Thuận huyện Đức Phổ tiến hành giải tỏa hành lang; xử lý các lù bộng, cống tưới, giải tỏa các bờ cản đặt trái phép trong lòng kênh gây thiếu nước cho khu tưới đoạn cuối kênh của xã Phổ Thuận;
- Đối với các địa phương hưởng lợi từ kênh B2 Núi Ngang, đề nghị UBND hai xã Phổ Phong và Phổ Thuận huyện Đức Phổ cần tiếp tục tuyên truyền, giải thích và động viên nhân dân không được tùy tiện đục kênh đặt lù bộng, làm bờ cản trong lòng kênh để lấy nước tưới gây thiếu nước cho khu tưới cuối kênh, mà thực hiện tưới theo lịch tưới luân phiên đã được thống nhất giữa Công ty và địa phương trong từng mùa vụ để thwucj hiện nhiệm vụ tưới đạt hiệu quả.
5.9. Cử tri huyện Sơn Tịnh phản ánh hiện nay tuyến đường Ba Tân Gân, từ ngã ba thôn Thế Lợi (xã Tịnh Phong, huyện Sơn Tịnh) đi xã Bình Tân (huyện Bình Sơn) xuống cấp nặng, gây khó khăn cho việc lưu thông. Đề nghị tỉnh kiểm tra và có biện pháp xử lý.
UBND huyện Sơn Tịnh trả lời:
Việc tuyến đường Ba Tân Gân bị xuống cấp, trong thời gian qua UBND huyện Sơn Tịnh đã chỉ đạo các ngành chức năng của huyện phối hợp với các đơn vị khai thác, vận chuyển đá qua tuyến đường tiến hành việc sửa chữa, khắc phục. Tuy nhiên, việc sửa chữa với quy mô đắp đất cấp phối đá, nhưng lưu lượng xe vận chuyển trên tuyến đường là rất lớn nên tuyến đường thường xuyên bị xuống cấp, hư hỏng. UBND huyện Sơn Tịnh cũng đã kiến nghị Tỉnh xem xét, bố trí kinh phí hỗ trợ để đầu tư nâng cấp tuyến đường, nhưng hiện nay chưa có nguồn kinh phí. Trong thời gian tới, UBND huyện tiếp tục đề nghị Tỉnh xem xét, bố trí kế hoạch vốn để đầu tư nâng cấp tuyến đường, phục vụ giao thông đi lại cho nhân dân.
5.10. Cử tri huyện Sơn Tịnh tiếp tục phản ánh, kiến nghị đoạn kè sông Trà Khúc thuộc đội 9 - thôn Phước Lộc Tây - xã Tịnh Sơn đã được UBND tỉnh triển khai xây dựng nhưng trong quá trình thi công đã bị sụp lún dở dang, đến nay vẫn chưa hoàn thành. Đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo khắc phục.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trả lời:
Dự án Kè Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh được Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 339/QĐ-UBND ngày 09/02/2007.
Tuyến kè dài 1.000 m, gồm 04 gói thầu xây lắp số 02, 03, 04 và 05, được khởi công xây dựng vào tháng 9/2007. Đến cuối năm 2008, được bàn giao cho đơn vị quản lý khai thác sử dụng các gói thầu 03, 04, 05. Riêng gói thầu số 02 (chiều dài 249 m) trong khi chuẩn bị bàn giao đưa vào sử dụng thì đoạn kè từ K0+224 đến K0+323 (chiều dài 99 m) bị sụt lún.
Nguyên nhân:
Sau thời điểm sụt lún đoạn kè, Sở Nông nghiệp và PTNT đã chỉ đạo tiến hành khoan kiểm tra, đánh giá lại địa chất nền công trình và phát hiện: tại đây có lớp đất nền yếu cục bộ nằm sâu dưới đáy móng công trình. Theo tài liệu khảo sát địa chất giai đoạn lập dự án đầu tư, vị trí đoạn kè sụt lún dài 99 mét nằm giữa 02 lỗ khoan (khoảng cách giữa 02 lỗ khoan là 317 mét), vì thế trong quá trình xây dựng đã không phát hiện được tại đây có lớp đất nền yếu cục bộ, nên khi xây dựng xong và chuẩn bị bàn giao gói thầu số 02 để khai thác sử dụng thì đoạn kè nói trên bị sụt lún.
Sau đó, Sở Nông nghiệp và PTNT và Sở Kế hoạch và Đầu tư đã có nhiều buổi làm việc và đi đến thống nhất xác định việc sụt lún đoạn kè trên là trường hợp bất khả kháng, xảy ra chủ yếu là do nguyên nhân khách quan, không dự lường hết được (thể hiện tại các văn bản số số 2044/NN&PTNT ngày 04/12/2009, số 1088/BC-SNN&PTNT ngày 22/7/2010, số 820/SKHĐT ngày 08/9/2010, số 181/TTr-SKHĐT ngày 05/9/2011).
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh liên quan đến việc khắc phục sụt lún đoạn kè trên tại các Công văn số 1685/UBND-NNTN ngày 24/6/2009, số 2596/UBND-NNTN ngày 16/9/2009, số 3574/UBND-NNTN ngày 12/12/2009, các Thông báo số 202/TB-UBND ngày 01/7/2010, số 119/TB-UBND ngày 10/5/2011; Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT đã tổ chức kiểm tra hiện trường, họp bàn biện pháp khắc phục và chỉ đạo cho các đơn vị liên quan thực hiện một số biện pháp ngăn ngừa tạm thời để hạn chế mức thấp nhất về thiệt hại cho công trình, đảm bảo an toàn cho nhân dân trong khu vực trong các mùa mưa lũ như: Lắp đặt biển báo CẤM “Khu vực nguy hiểm - Cấm vào”; ban hành Thông báo cảnh báo cho dân; chỉ đạo gia cố các vị trí xung yếu của đoạn kè sụt lún bằng bao cát, đá hộc; thực hiện Phương án Phòng chống lụt bão cho đoạn kè qua các năm 2008, 2009, 2010, 2011; khoan kiểm tra, đánh giá lại địa chất nền; theo dõi, quan trắc biến dạng của đoạn kè, lập trình duyệt phương án kỹ thuật xử lý triệt để, đảm bảo ổn định lâu dài cho đoạn kè; lập hồ sơ trình duyệt dự án điều chỉnh bổ sung (trong đó, có bổ sung hạng mục Xử lý khắc phục sụt lún đoạn kè từ K0+224 ÷ K0+323) .v.v…
Ngày 09/01/2012, UBND tỉnh đã ban hành Công văn số 46/UBND-NNTN về việc quyết toán, bàn giao công trình Kè Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh trên cơ sở đề nghị của Sở Nông nghiệp và PTNT tại các Công văn số 924/SNN&PTNT ngày 21/6/2011, số 1793/SNN&PTNT ngày 17/11/2011, của Sở Kế hoạch và Đầu tư tại các Tờ trình số 181/TTr-SKHĐT ngày 05/9/2011, Công văn số 781/SKHĐT ngày 19/12/2011; đồng thời tổ chức kiểm tra trực tiếp tại hiện trường công trình ngày 03/10/2012 với sự tham gia của các Sở ngành liên quan.
Chấp hành ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh tại văn bản trên Sở Nông nghiệp và PTNT đã tổ chức thực hiện và đạt một số kết quả sau:
- Về công tác bàn giao, quyết toán gói thầu xây lắp số 02: Sở Nông nghiệp và PTNT đã bàn giao gói thầu số 02 cho UBND xã Tịnh Sơn quản lý vận hành vào ngày 21/3/2012. Hiện nay, Sở Tài chính đang xem xét, kiểm tra để quyết toán gói thầu này.
- Về thực hiện kiểm điểm xử lý trách nhiệm theo chỉ đạo của UBND tỉnh tại Công văn số 2973/UBND-NNTN ngày 08/10/2010:
+ Đã tổ chức kiểm điểm và xử lý trách nhiệm các cá nhân, tập thể của các đơn vị liên quan gồm: Ban Quản lý dự án ĐT và XD Thủy lợi, Công ty Cổ phần tư vấn xây dựng và đầu tư Quảng Ngãi (đơn vị khảo sát, thiết kế), Tổng Công ty Cổ phần xây dựng Nông nghiệp và PTNT Thanh Hóa (đơn vị thi công). Kết quả cuộc họp ngày 22/11/2010 với sự chủ trì của đồng chí Giám đốc Sở, có sự tham gia của đại diện các Sở: Kế hoạch và Đầu tư, Xây dựng, các phòng chức năng thuộc Sở được Sở Nông nghiệp và PTNT lập thành Biên bản và Báo cáo số 1832/BC-SNN&PTNT ngày 06/12/2010 báo cáo UBND tỉnh;
+ Kết quả cụ thể về thực hiện ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh tại Công văn số 46/UBND-NNTN ngày 09/01/2012 đã được Sở Nông nghiệp và PTNT lập Báo cáo số 1255/BC-SNN&PTNT ngày 19/7/2013 báo cáo UBND tỉnh.
+ Kết quả thực hiện nhiệm vụ của UBND xã Tịnh Sơn (đơn vị quản lý vận hành công trình) đối với ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh tại Công văn số 46/UBND-NNTN ngày 09/01/2012: Sau khi tiếp nhận bàn giao gói thầu xây lắp số 02, UBND xã Tịnh Sơn đã có Tờ trình số 15/TTr-UBND ngày 04/4/2012 về việc đầu tư sửa chữa Kè Tịnh Sơn đoạn từ K0+224 ÷ K0+323, tiếp đến UBND huyện Sơn Tịnh có Tờ trình số 454/TTr-UBND ngày 12/4/2012 về việc xin chủ trương đầu tư xây dựng sửa chữa đoạn kè từ K0+224 ÷ K0+323 thuộc công trình Kè Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Sau khi xem xét, Sở Nông nghiệp và PTNT có Công văn số 575/SNN&PTNT ngày 19/4/2012 đề nghị Sở Kế hoạch và Đầu tư quan tâm xem xét, trình UBND tỉnh sớm cho chủ trương đầu tư xây dựng sửa chữa đoạn kè từ K0+224 ÷ K0+323 thuộc công trình Kè Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Ngày 03/7/2012, Uỷ ban nhân dân xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh lại tiếp tục có Tờ trình số 36/TTr-UBND gửi UBND tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và PTNT về việc đầu tư sửa chữa Kè Tịnh Sơn đoạn từ K0+224 ÷ K0+323.
Ngày 23/8/2012, Sở Kế hoạch và Đầu tư đã tổ chức và chủ trì cuộc họp, với sự tham dự của đại diện: Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và PTNT, UBND huyện Sơn Tịnh, UBND xã Tịnh Sơn, Ban Quản lý dự án đầu tư và xây dựng Thủy lợi. Qua cuộc họp, các bên thống nhất và đề nghị UBND tỉnh cho chủ trương đầu tư sửa chữa công trình Kè Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh đoạn từ K0+224 ÷ K0+323.
Tiếp đến, ngày 01/01/2013 Sở Nông nghiệp và PTNT có Công văn số 08/SNN&PTNT tiếp tục đề nghị Sở Kế hoạch và Đầu tư trình UBND tỉnh sớm cho chủ trương đầu tư xây dựng sửa chữa kiên cố hóa đoạn kè sụt lún từ K0+224 ÷ K0+323 thuộc công trình Kè Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh.
Tuy nhiên, do ngân sách tỉnh có khó khăn nên Sở Kế hoạch và Đầu tư chưa trình UBND tỉnh xin chủ trương để đầu tư sửa chữa đoạn kè sụt lún nói trên.
5.11. Cử tri huyện Bình Sơn tiếp tục phản ảnh tuyến đường 622B từ Bình Chương huyện Bình Sơn, đi Tịnh Trà huyện Sơn Tịnh bị hư hỏng nặng. Đề nghị tỉnh cần quan tâm đầu tư, nâng cấp.
Sở Giao thông vận tải trả lời:
Tuyến ĐT.622B đoạn từ điểm đầu (giao với Quốc lộ 1 tại Km1037+600, thuộc xã Bình Long, huyện Bình Sơn) đến Km15 (cầu bà Lãnh) được đầu tư đưa vào sử dụng năm 2002, với quy mô đường cấp VI (nền đường rộng 6,0m, mặt đường rộng 3,5m, kết cấu mặt đường bằng đá dăm láng nhựa). Sau hơn 10 năm khai thác đến nay đã hư hỏng nặng, trong thời gian qua do nguồn vốn đầu tư tập trung của ngân sách tỉnh còn hạn chế nên chưa thực hiện đầu tư nâng cấp, mở rộng tuyến đường này theo đúng quy hoạch được duyệt. Trước tình hình đó, trong những năm qua Sở Giao thông vận tải đã đề xuất và sử dụng các nguồn vốn: Sự nghiệp giao thông hàng năm, khắc phục hậu quả lũ lụt, khắc phục hậu quả thiên tai do Ngân hàng thế giới tài trợ, ... để khôi phục nền, mặt đường của đoạn tuyến trên, đến nay đoạn từ Km0+900 – Km7+100 đã cơ bản được cứng hoá bằng bê tông xi măng, mặt đường rộng 6,0m. Đến cuối năm 2013, Sở Giao thông vận tải sẽ sử dụng nguồn Quỹ bảo trì đường bộ Trung ương phân bổ để tiếp tục khôi phục nền, mặt đường các phân đoạn còn lại (dài khoảng 500m) thuộc đoạn Km0+900 – Km7+100 và tiếp tục đầu tư đoạn Km7+100 đến Km8+00. Trong những năm tiếp theo, Sở Giao thông vận tải sẽ tiếp tục đề xuất với UBND tỉnh huy động mọi nguồn vốn để thực hiện khôi phục nền, mặt đường phần còn lại (đến cầu bà Lãnh) để tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân đi lại an toàn.
5.12. Cử tri huyện Bình Sơn phản ảnh việc xây dựng cầu cảng cá Bình Đông, cửa ra vào cạn và hẹp, không đảm bảo cho tàu, thuyền lưu thông. Đề nghị tỉnh có kế hoạch mở rộng, nạo vét.
Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất trả lời:
Dự án cầu cảng cá sông Trà Bồng bao gồm cầu cảng cá và khu dân cư Bình Đông (giai đoạn 2) được xây dựng với mục tiêu phục vụ các hộ dân ngư nghiệp tái định cư và nhân dân trong vùng dự án, bảo đảm nghề cá hoạt động ổn định nhằm cải thiện cuộc sống lâu dài của nhân dân trong vùng dự án; kết hợp làm nơi neo đậu cho tàu thuyền tránh gió bão khi cần thiết. Hiện nay, dự án đã thi công hoàn thành trong đó có hạng mục bến 45CV, 90CV và nạo vét 01 luồng tàu vào bến 90CV, khu vực trước bến 45, 90CV đảm bảo tàu có công suất từ 45 - 90CV ra vào cập bến an toàn. Đối với tuyến sông chính thì đây là tuyến đường thuỷ nội địa do các sở ngành có liên quan chịu trách nhiệm quản lý, vì vậy kính đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo các ngành liên quan triển khai thực hiện.
5.15. Cử tri huyện Bình Sơn phản ánh hệ thống mương thoát nước trên tuyến đường Võ Văn Kiệt đều tập trung đổ về đập Hố Bòng có thể dẫn đến bồi lấp lòng hồ. Đề nghị chỉ đạo chủ đầu tư Dự án khắc phục tình trạng trên và khẩn trương triển khai thi công giai đoạn 2.
Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất trả lời:
Hiện nay trên tuyến đường Võ Văn Kiệt có 02 cống thoát nước ngang Φ125cm tại lý trình Km8+688 và Km8+883 thoát về hướng đập Hố Bòng; khoảng cách từ hạ lưu các cống đến đập Hố Bòng khoảng 200m. Các cống thoát nước ngang này đã xây dựng và hoạt động ổn định trên 10 năm, thảm thực vật đã được tái tạo do đó, các cống thoát nước ngang này không thể gây bồi lắng cho đập Hố Bòng. Vì vậy kiến nghị của nhân dân về việc hệ thống mương thoát nước trên tuyến đường Võ Văn Kiệt đều tập trung đổ về đập Hố Bòng có thể dẫn đến bồi lấp lòng hồ là chưa có cơ sở.
5.13. Cử tri huyện Bình Sơn phản ảnh cống thoát nước đoạn từ xã Bình Hòa đến xã Bình Hải nước đổ vào khu vực nhà dân gây ngập úng nhà và đất sản xuất của nhân dân. Đề nghị tỉnh sớm chỉ đạo để khắc phục.
Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất trả lời:
Trên tuyến đường 7,5km vào đô thị Vạn Tường, cách cầu Dầm khoảng 300m có cống hộp 1.000 x 1.000 qua đường, thoát nước cho khu vực hạ lưu thuộc xóm Hải Thượng, thôn Vạn Tường, xã Bình Hải. Cống này được thi công và hoàn thành năm 2003 (được làm đồng thời với tuyến đường 7,5km). Tuy nhiên, do tuyến đường này mới được đầu tư giai đoạn 1 nên chưa có hệ thống thu gom và thoát nước mưa đường bộ theo quy hoạch đã được duyệt nên phần nối tiếp bể tiêu năng phía hạ lưu cống không có hệ thống mương thoát nước mưa, vì vậy khi mưa nước chảy tràn trên mặt đường dân sinh gây ngập úng nhà dân, ảnh hưởng đến sản xuất và đi lại khó khăn, đúng như phản ánh của cử tri.
Để giải quyết vấn đề này, Ban Quản lý KKT Dung Quất đã chỉ đạo Ban Quản lý Phát triển đô thị Vạn Tường phối hợp với chính quyền địa phương và các đơn vị liên quan khảo sát thực tế và đưa vào kế hoạch duy tu, bảo dưỡng hạ tầng giao thông năm 2014.
5.14. Cử tri huyện Bình Sơn tiếp tục phản ánh tình trạng các dự án đầu tư trên địa bàn xã Bình Chánh (phân khu công nghiệp Sài Gòn - Dung Quất; khai thác ti tan...) hệ thống thoát nước không đồng bộ, không phù hợp dẫn đến gây ngập úng đất sản xuất của nhân dân và KDC Bầu Chuốc, Quang Minh vào mùa mưa. Hệ thống cống thoát nước ở khu dân cư Trung Minh bị bồi lấp làm ảnh hưởng đến dòng chảy, đặc biệt vào mùa mưa làm ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của nhân dân. Đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo giải quyết khắc phục tình trạng trên.
Ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất trả lời:
- Hiện nay các dự án khai thác Titan tại phân khu công nghiệp Sài Gòn - Dung Quất đã kết thúc việc khai thác và đã hoàn thành việc tái tạo mặt bằng nên không ảnh hưởng đến vấn đề thoát nước của khu vực. Vì vậy kiến nghị của nhân dân về việc các dự án khai thác Titan này dẫn đến gây ngập úng là chưa có cơ sở.
- Về hệ thống thoát nước tại phân khu công nghiệp Sài Gòn - Dung Quất: Công ty TNHH MTV đầu tư, xây dựng và kinh doanh dịch vụ Quảng Ngãi đã đầu tư tuyến mương 1,2x1,4m đấu nối từ hệ thống thoát nước của phân khu ra sông Trà Bồng. Vì vậy nội dung phản ánh hệ thống thoát nước tại phân khu không đồng bộ gây tình tình trạng ngập úng là chưa có cơ sở.
- Tuyến cống thoát nước 2Φ150cm KDC Trung Minh đã được thi công hoàn thành và bàn giao cho UBND xã Bình Chánh từ tháng 4/2010. Tuy nhiên, do không được nạo vét hàng năm nên đến nay tuyến cống đã bị bồi lấp làm ảnh hưởng đến khả năng thoát nước. Đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo UBND huyện Bình Sơn, UBND xã Bình Chánh có giải pháp duy tu bảo dưỡng, nạo vét hàng năm.
5.15. Cử tri nhiều nơi trong tỉnh đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo các chủ đầu tư sớm có kế hoạch trả nợ các công trình đã xây dựng xong, đưa vào sử dụng đã nhiều năm nhưng chưa thanh toán đủ, gây khó khăn cho các đơn vị xây dựng.
Sở Kế hoạch và Đầu tư trả lời:
- Đối với nợ đọng xây dựng cơ bản các dự án sử dụng vốn ngân sách tỉnh: Đến 31/12/2012, tình hình nợ đọng xây dựng cơ bản đối với dự án hoàn thành bàn giao, đưa vào sử dụng là 79,954 tỷ đồng. Kế hoạch năm 2013, Sở Kế hoạch và Đầu tư đã tham mưu UBND tỉnh bố trí trả nợ là 62,207 tỷ đồng. Như vậy, số nợ còn lại là 17,747 tỷ đồng là của những dự án chưa quyết toán. Từ nay đến cuối năm, Sở Kế hoạch và Đầu tư tiếp tục tham mưu UBND tỉnh bố trí trả nợ theo Quyết định quyết toán hoặc ưu tiên bố trí trả nợ kế hoạch năm 2014.
Đối với số nợ đọng xây dựng cơ bản do ngân sách huyện phụ trách, UBND tỉnh đã có văn bản chỉ đạo UBND các huyện, thành phố ưu tiên phân bổ ngân sách để trả nợ theo tinh thần Chỉ thị 27/CT-TTg ngày 10/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ. Đối với các dự án điều chỉnh tổng mức đầu tư, theo Chỉ thị 14, Trung ương đã cho phép điều chỉnh các dự án duyệt sau Nghị định 83, Sở Kế hoạch và Đầu tư đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Công văn số 2835/UBND-KTTH ngày 29/7/2013 chỉ đạo các chủ đầu tư khẩn trương rà soát, điều chỉnh tổng mức đầu tư để có cơ sở nghiệm thu thanh toán khối lượng hoàn thành cho các dự án.