Một số ý kiến góp phần hoàn thiện Dự thảo Luật Hải quan (sửa đổi)
RSS In Gởi cho bạn bè
.
A A 16/04/2014 10:37:47 AM         
Luật Hải quan được Quốc hội thông qua ngày 29.6.2001, có hiệu lực từ ngày 1.1.2002 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan được Quốc hội thông qua ngày 14.6.2005, có hiệu lực thi hành từ 1.1.2006 (dưới đây gọi chung là Luật Hải quan). Sau hơn 10 năm thực hiện, Luật Hải quan đã đạt được kết quả quan trọng, góp phần thúc đẩy tiến trình cải cách hành chính, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh phát triển, bảo đảm an ninh kinh tế, lợi ích chủ quyền và an ninh quốc gia...

Bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình triển khai thực hiện những năm qua, Luật Hải quan cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập. Việc sửa đổi Luật Hải quan là cần thiết, xuất phát từ yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng mà thực tế phát triển kinh tế đối ngoại trước mắt cũng như lâu dài đặt ra, tạo hành lang pháp lý cho hiện đại hóa hoạt động hải quan, áp dụng rộng rãi phổ biến hải quan điện tử, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (giữa tháng 4 năm 2014, Hải quan Việt Nam sẽ áp dụng Hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCISS); đáp ứng yêu cầu của cải cách hành chính, cải cách thủ tục hải quan hướng tới một hoạt động hải quan công khai, minh bạch, hiệu quả hơn. Đồng thời, tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác bảo vệ lợi ích chủ quyền quốc gia, phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại

Để góp phần hoàn thiện các nội dung của Dự thảo Luật Hải quan (sửa đổi), xin có một số ý kiến góp ý về các vấn đề, cụ thể như sau: 

- Về nhiệm vụ của Hải quan (Điều 11): Ngoài các nhiệm vụ kiểm tra, giám sát hàng hoá xuất nhập khẩu, phòng, chống buôn lậu…, cần bổ sung thêm một số nhiệm vụ trong thực tế Hải quan đã thực hiện, như phòng, chống gian lận thương mại trong hoạt động xuất nhập khẩu đối với các hành vi khai tên hàng, mã số phân loại hàng hóa, khai giá thấp hơn giá thực mua để trốn thuế nhập khẩu, khai giá nhập khẩu cao hơn giá thực mua để chuyển lợi nhuận ra nước ngoài.... đang xảy ra khá phổ biến. Hải quan với tư cách là người kiểm soát hàng hóa xuất và nhập khẩu nên không thể đứng ngoài cuộc trong lĩnh vực này.

Đồng thời, cần bổ sung một số nhiệm vụ khác mà thực tế cơ quan Hải quan đã thực hiện trong hoạt động quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu, như: phối hợp với các cơ quan nhà nước khác trong phòng chống ma túy (lâu nay tại một số Cục Hải quan tỉnh đã thành lập Đội Kiểm soát phòng, chống ma túy và đã bắt giữ nhiều vụ ma túy lớn), phòng chống rửa tiền, tài trợ khủng bố, khủng bố hoặc trong việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa xuất nhập khẩu tại biên giới.

Sở dĩ cần phải bổ sung các nhiệm vụ trên, vì có xác định rõ nhiệm vụ cụ thể thì mới giao quyền, nguồn lực, trang bị các phương tiện cần thiết… cho việc thực hiện nhiệm vụ, như vậy mới có thể bảo đảm cho Hải quan thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

- Về hồ sơ hải quan (Điều 23): Cần quy định về “Chứng từ thay thế tờ khai hải quan” tại điểm a khoản 1 Điều 23 để thuận tiện cho việc áp dụng và chỉ giao cho Bộ Tài chính quy định mẫu tờ khai, tờ lược khai hải quan. Đồng thời, quy định rõ các trường hợp phải nộp thêm những chứng từ như: hóa đơn thương mại; chứng từ vận tải; hợp đồng mua bán hàng hóa; giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu hoặc văn bản thông báo kết quả kiểm tra hoặc miễn kiểm tra chuyên ngành (điểm b khoản 1 Điều 23) mà không trao quyền cho Chính phủ quy định cụ thể điều này.

- Về khai hải quan (Điều 28): Khoản 5 Điều 28 ghi “Người khai hải quan được nộp tờ khai hải quan chưa hoàn chỉnh hoặc chứng từ thay thế tờ khai để thông quan và hoàn chỉnh tờ khai trong thời hạn quy định..., khai một lần để xuất khẩu, nhập khẩu nhiều lần trong một thời gian nhất định đối với mặt hàng nhất định”. Cần quy định rõ: Một thời gian nhất định đối với mặt hàng nhất định là thế nào? để thuận tiện cho việc áp dụng.

- Về đăng ký tờ khai hải quan (Điều 29): Khoản 2 Điều 29 Dự thảo nêu về trường hợp không chấp nhận đăng ký tờ khai hải quan, cơ quan hải quan thông báo lý do bằng văn bản giấy hoặc qua phương thức điện tử cho người khai hải quan biết. Tuy nhiên, Dự thảo chưa quy định rõ trường hợp nào cơ quan hải quan “không chấp nhận đăng ký tờ khai hải quan”. Theo đó, sẽ dẫn đến khó khăn trong quá trình thực hiện cả về phía doanh nghiệp lẫn cơ quan Hải quan, vì cơ quan Hải quan sẽ căn cứ vào cơ sở pháp lý nào vững chắc để mạnh tay từ chối đăng ký mà có thể loại trừ trách nhiệm và cũng có thể gây ra sự lạm quyền của các cán bộ hải quan trong thực thi nhiệm vụ, gây cản trở cho hoạt động của doanh nghiệp.

- Quy định về giải phóng hàng (Điều 35): So với Luật Hải quan hiện hành, Dự thảo đã bổ sung quy định về giải phóng hàng. Đây là quy định tiến bộ, góp phần minh bạch hóa về thủ tục hải quan cũng như gắn trách nhiệm của các bên trong thủ tục này, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động. Tuy nhiên, về quy định giải phóng hàng tại khoản 2 Điều 35 Dự thảo nêu “Số thuế chính thức phải nộp được xác định sau khi có kết quả xác định giá, giám định, phân tích, phân loại. Thời hạn xác định số thuế chính thức phải nộp không quá 30 ngày kể từ ngày giải phóng hàng”, cần quy định về thời hạn xác định số thuế tạm nộp là bao nhiều ngày kể từ ngày khai hải quan để thuận tiện cho việc áp dụng.

- Xử lý hàng hoá tồn đọng (Điều 57): Cần cân nhắc nội dung khoản 4 Điều 58 Dự thảo “Doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho, bãi có trách nhiệm bố trí địa điểm cảng, kho, bãi đáp ứng các điều kiện giám sát hải quan để lưu giữ hàng hóa tồn đọng”. Việc giao trách nhiệm như trên cho doanh nghiệp kinh doanh kho bãi là chưa hợp lý. Bởi, các doanh nghiệp này không tạo ra hàng hoá tồn đọng.

- Về trị giá hải quan (Điều 86): Khoản 2 Điều 86 Dự thảo ghi “trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu là giá bán tại cửa khẩu xuất, không bao gồm phí bảo hiểm và phí vận tải quốc tế”. Việc quy định “giá bán tại cửa khẩu xuất” có thể sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong trường hợp hàng hóa được xuất bán theo các điều kiện Incoterms khác và như vậy thì doanh nghiệp phải quy đổi theo giá bán tại cửa khẩu xuất trong khi chưa có công thức quy đổi phù hợp. Do đó, cần chỉnh lý khoản này thành “Trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu là giá bán để xuất khẩu hàng hóa đến nước nhập khẩu, không bao gồm phí bảo hiểm và phí vận tải quốc tế”.

Khoản 3 Điều 86 Dự thảo ghi “Trị giá hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên, phù hợp với pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”. Dự thảo nên quy định cụ thể hơn về “giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên” là giá nào? Được tính theo từng lô hàng nhập có bao gồm cả những chi phí doanh nghiệp đã chi để phục vụ kinh doanh trong một thời gian nhất định hay không, bởi vì trên thực tế đã phát sinh các vướng mắc xuất phát tự sự thiếu rõ ràng trong quy định về trị giá hải quan.

- Thẩm quyền của cơ quan hải quan trong việc áp dụng các biện pháp phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (Điều 89): Khoản 2 Điều 89 Dự thảo đã luật hóa một số biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan như tuần tra hải quan, điều tra, xác minh. Tuy nhiên, thực tế ngoài các biện pháp đã được nêu trong Dự thảo, còn có các biện pháp kiểm soát hải quan khác theo Quyết định 65/2004/QĐ-TTg Ban hành Quy chế hoạt động của lực lượng hải quan chuyên trách phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, cần được bổ sung vào Dự thảo để luật hóa, tạo cơ sở pháp lý cao nhất cho hoạt động của lực lượng Kiểm soát hải quan đạt hiệu quả, như: biện pháp vận động quần chúng, điều tra nghiên cứu nắm tình hình, các biện pháp trinh sát cần thiết (như: biện pháp cơ sở bí mật, sưu tra, tổ chức đấu tranh chuyên án, trinh sát nội tuyến, trinh sát ngoại tuyến, trinh sát kỹ thuật)./.

Đoàn Mậu Huân