Trong năm 2021, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh bị ảnh hưởng, tác động do dịch Covid-19, nhưng đạt được một số kết quả nhất định: Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) tăng 6,0%; chỉ số sản xuất công nghiệp, giá trị sản xuất công nghiệp tăng; kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản nhìn chung phát triển ổn định. Thu ngân sách trên địa bàn tăng so với cùng kỳ. Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công đạt khá. Công tác quản lý đất đai, quản lý và bảo vệ tài nguyên nước, khoáng sản, bảo vệ môi trường được các cấp, các ngành chú trọng thực hiện. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội được chỉ đạo sâu sát, toàn diện. Công tác đền ơn đáp nghĩa, an sinh xã hội, giảm nghèo; quản lý nhà nước đối với lĩnh vực lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội được thực hiện tốt. Công tác phòng, chống dịch Covid-19 được thực hiện quyết liệt; thực hiện linh hoạt, hiệu quả “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch Covid-19, vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời, thực hiện kịp thời các chế độ, chính sách về an sinh xã hội. Cải cách hành chính được thực hiện mạnh mẽ, toàn diện; kỷ luật, kỷ cương hành chính được chú trọng. An ninh chính trị được giữ vững; trật tự, an toàn xã hội được duy trì ổn định.
Trong 24 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu năm 2021, có 16 chỉ tiêu đạt (trong đó, có 03 chỉ tiêu vượt); dự kiến có 08 chỉ tiêu không đạt theo Nghị quyết đã đề ra, gồm:
(1) Tốc độ tăng trưởng GRDP, ước đạt 6,0% (Nghị quyết: GRDP tăng bình quân 09-10%); (do sản lượng dầu không đạt kế hoạch 6,9 triệu tấn như dự kiến (chỉ đạt 6,37 triệu tấn), dịch vụ tăng trưởng âm 0,7% (kế hoạch 8,7%) và một số sản phẩm khác giảm do ảnh hưởng của dịch Covid-19);
(2) GRDP bình quân đầu người, ước đạt 3.091 USD/người (Nghị quyết: 3.300 USD/người);
(3) Tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ trong GRDP, ước đạt 63,6% (Nghị quyết: 68-69%);
(4) Năng suất lao động tăng 5,7% (Nghị quyết: 09-10%);
(5) Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn, ước đạt 22.610 tỷ đồng (Nghị quyết: 24.000-26.000 tỷ đồng);
(6) Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội còn khoảng, ước còn 46% (Nghị quyết: 43,76%);
(7) Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị khoảng, ước còn 5,2% (Nghị quyết: 2,91%);
(8) Tỷ lệ che phủ rừng, ước đạt 51,27% (Nghị quyết: 52%).

3. Về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022
3.1. Mục tiêu
Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh Covid-19, bảo vệ tối đa sức khỏe, tính mạng của Nhân dân, tận dụng tốt cơ hội để thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, triển khai thực hiện 04 nhiệm vụ trọng tâm và 03 nhiệm vụ đột phá trong giai đoạn 2021-2025; tạo chuyển biến rõ nét trong phát triển kinh tế - xã hội. Bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao đời sống Nhân dân. Phát triển văn hóa, giáo dục. Chấn chỉnh quản lý đất đai, tài nguyên, bảo vệ môi trường. Thực hiện quyết liệt cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính, sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập, tinh giản biên chế. Giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh, đảm bảo trật tự và an toàn xã hội.
3.2. Chỉ tiêu chủ yếu
(1) Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân 5-6%;
(2) GRDP bình quân đầu người khoảng 3.280 USD;
(3) Tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng, dịch vụ trong GRDP chiếm khoảng 64-65%; trong đó, công nghiệp - xây dựng chiếm khoảng 36-37% GRDP;
(4) Năng suất lao động xã hội tăng khoảng 5-6%;
(5) Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn đạt khoảng 29.000-31.000 tỷ đồng;
(6) Tỷ lệ đô thị hóa đạt 29%;
(7) Phấn đấu thu ngân sách vượt mức chỉ tiêu Trung ương giao trên 5%;
(8) Có 05 xã đạt chuẩn quốc gia về nông thôn mới;
(9) Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội còn khoảng 43,8%;
(10) Tỷ lệ lao động qua đào tạo khoảng 61,43%;
(11) Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị khoảng 4,0%;
(12) Có ít nhất 51,67% trường mầm non, 82,47% trường tiểu học, 88,46% trường trung học cơ sở, 32,69% trường tiểu học - trung học cơ sở, 66,67% trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia;
(13) Số bác sỹ/vạn dân đạt 7,72 bác sĩ;
(14) Số gường bệnh/vạn dân (không tính trạm y tế xã) đạt 30,2 giường;
(15) Tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt 93% dân số;
(16) Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm 1 - 1,5%.
(17) Tỷ lệ dân số đô thị được sử dụng nước sạch: 89,3%;
(18) Tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh: 97%, trong đó, sử dụng nước sạch 57%;
(19) Tỷ lệ chất thải nguy hại được thu gom, xử lý đạt chuẩn: 62%;
(20) Tỷ lệ chất thải y tế được xử lý đạt chuẩn: 90%;
(21) Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở đô thị: 90%;
(22) Tỷ lệ che phủ rừng: 51,3%.
(23) Có khoảng 95% xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn vững mạnh về quốc phòng, trong đó vững mạnh toàn diện đạt khoảng 65%;
(24) Ít nhất 80% xã, phường, thị trấn, cơ quan, doanh nghiệp, nhà trường đạt tiêu chuẩn an toàn về an ninh trật tự.
3.3. Nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm
a) Về chỉ đạo, điều hành
Tuân thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Chính phủ, của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, HĐND tỉnh; tranh thủ sự ủng hộ của các Bộ, ngành Trung ương; tăng cường sự phối hợp với Thường trực HĐND tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các đoàn thể chính trị - xã hội tỉnh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, phòng, chống dịch Covid-19 và đảm bảo quốc phòng, an ninh. Tiếp tục giữ vững sự đoàn kết, thống nhất cao trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành. Tổ chức thực hiện nghiêm túc Quy chế làm việc của UBND tỉnh. Ban hành Chương trình công tác năm 2022 đảm bảo sát thực tế, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với thực tiễn và đúng thẩm quyền; đồng thời yêu cầu các ngành, các cấp tổ chức thực hiện Chương trình công tác đúng tiến độ được giao và đảm bảo chất lượng.
b) Về phát triển kinh tế
Triển khai thực hiện hiệu quả Chiến lược tổng thể về phòng, chống dịch Covid-19, Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ trên địa bàn tỉnh. Thực hiện kịp thời, hiệu quả 03 Chương trình mục tiêu quốc gia và 05 Nghị quyết chuyên đề của Tỉnh ủy. Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành công tác lập Quy hoạch tỉnh Quảng Ngãi thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Đồ án điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng KKT Dung Quất tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2035 tầm nhìn đến năm 2050. Tập trung tổ chức lựa chọn nhà đầu tư thực hiện các dự án ngoài ngân sách theo quy định của Trung ương. Tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả Kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030; Đề án “Mỗi xã một sản phẩm” giai đoạn 2018-2020, định hướng đến năm 2030; tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng nông thôn mới. Triển khai giải pháp thúc đẩy phát triển các hoạt động thương mại, xuất khẩu, du lịch, dịch vụ sau dịch Covid-19. Đầu tư, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ theo đúng quy hoạch, chú trọng huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển hạ tầng giao thông. Chỉ đạo quyết liệt, phấn đấu hoàn thành vượt mức dự toán thu ngân sách nhà nước. Tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư; thúc đẩy khởi nghiệp; huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển.
c) Về lĩnh vực xã hội
Phát triển hài hòa các lĩnh vực văn hóa, xã hội. Xây dựng, phát triển văn hóa, con người Quảng Ngãi đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; triển khai các giải pháp bảo đảm thực hiện năm học 2021-2022 và các năm tiếp theo an toàn, hiệu quả, phù hợp với tình hình dịch bệnh. Thực hiện tốt các chính sách xã hội, bảo đảm an sinh xã hội; giải quyết việc làm; giảm nghèo bền vững, nhất là ở các huyện miền núi. Tiếp tục mở rộng độ bao phủ, tăng tốc chiến dịch tiêm vắc-xin Covid-19 cho người dân. Phát triển khoa học, công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo; nâng cao chất lượng công tác thông tin, truyền thông và báo chí.
d) Về lĩnh vực nội chính, tổ chức nhà nước và quốc phòng, an ninh
Tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 18/10/2021 của Tỉnh ủy khóa XX về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao thứ hạng các chỉ số cải cách hành chính, hiệu quả quản trị và hành chính công, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Tăng cường quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế, hợp tác phát triển về kinh tế.