1. Về loại bỏ hình phạt tử hình đối với một số tội phạm:
Việc rà soát để tiếp tục loại bỏ hình phạt tử hình đối với một số tội phạm được quy định trong BLHS hiện hành là đúng đắn, thực hiện chủ trương “Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình” theo tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị. Tuy nhiên, việc loại bỏ hình phạt tử hình đối với tội phạm nào, phải căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, yêu cầu phòng ngừa tội phạm, sự chuyển biến quan hệ xã hội được luật hình bảo vệ, thực tiễn thi hành pháp luật hình sự….
Từ những tiêu chí nêu trên, nhận thấy dự thảo BLHS (sửa đổi) lần này dự kiến bỏ hình phạt tử hình đối với các tội: “Phá hủy công trình quan trọng quốc gia; chống mệnh lệnh; đầu hàng địch; phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược; chống loài người; tội phạm chiến tranh và hành vi phạm tội tàng trữ trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy” là phù hợp với thực tế, vẫn đảm bảo được sự răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Nhưng đối với tội cướp tài sản và hành vi phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy thì không thể bỏ hình phạt tử hình. Bởi các lẽ:
Về tội Cướp tài sản, khi thực hiện hành vi phạm tội cướp tài sản mà gây ra hậu quả chết người và nếu chứng minh người phạm tội có ý thức tước đoạt mạng sống của nạn nhân thì sẽ bị xử lý thêm về tội giết người mà mức hình phạt cao nhất là tử hình. Tuy nhiên, thực tiễn chứng minh tội cướp tài sản luôn là tiền đề phát sinh tức khắc nhiều tội phạm khác, trong đó có tội giết người; và vì thực hiện tội phạm đến cùng, nhiều trường hợp người phạm tội đã tước đoạt hàng loạt mạng sống của con người, một lúc đã xâm phạm hai khách thể quan trọng là quyền sở hữu tài sản và quyền sống của con người. Vì vậy, để bảo vệ tính mạng của con người thường bị xâm hại trong tội cướp tài sản thì nên quy định mức hình phạt tử hình đối với tội cướp tài sản để đủ tác dụng răn đe và phòng ngừa cho xã hội.
Về hành vi phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy: Thực tiễn cho thấy, để việc mua bán trái phép chất ma túy không bị phát hiện, hầu hết người mua bán trái phép chất ma túy không trực tiếp vận chuyển mà thông qua người khác. Vì vậy, tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy không hề thấp hơn tính nguy hiểm của hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Mặt khác, loại tội phạm mua, bán và vận chuyển trái phép chất ma túy hiện đang xảy ra nhiều và ngày càng gia tăng. Do đó, không thể bỏ hình phạt tử hình đối hành vi phạm tội vận chuyển trái phép chất ma tuý mới đáp ứng yêu cầu phòng chống đối với nhóm tội phạm liên quan đến chất ma túy.
2. Về quy định không thi hành án tử hình đối với người bị kết án tử hình về một số tội quy định tại điểm c, khoản 3 Điều 39 dự thảo BLHS: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh xâm phạm khách thể là sức khỏe và quyền sống của con người; tội tham ô tài sản cùng lúc xâm phạm 02 khách thể trực tiếp là uy tín và hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức và gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản cho Nhà nước. Với loại khách thể trực tiếp mà tội phạm đã xâm hại vừa nêu thì hậu quả của tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh không thể nào khắc phục được về cơ bản; còn đối với tội tham ô tài sản, thì chỉ có thể khắc phục được về tài sản đã chiếm đoạt, chứ không thể khắc phục được uy tín và hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức. Do đó, những căn cứ mà dự thảo BLHS đã viện dẫn để không thi hành án tử hình đối với 02 tội này là không thực tế. Trong thời điểm nước ta phát triển kinh tế theo hướng kinh tế thị trường, thì tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh sẽ có cơ hội trổi dậy; còn tình hình tham nhũng hiện nay đang là quốc nạn nên việc quy định không thi hành án tử hình đối với 02 tội này sẽ không đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống đối với loại tội phạm này.
3. Về vấn đề giảm án đối với người bị kết án tử hình được ân giảm: Khi một người bị tuyên phạt mức án tử hình, nghĩa là tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cao hơn, nguy hiểm hơn nhiều hành vi của người phạm tội bị phạt với mức án tù chung thân. Nhưng khi đã được ân giảm và trong quá trình cải tạo, thì họ có thể hoàn lương, trở thành người có ích cho xã hội. Do đó, nếu không quy định giảm án cho người bị kết án tử hình được ân giảm thì mục đích của hình phạt và mục đích của việc cải tạo, giáo dục sẽ không còn ý nghĩa.
4. Quy định không áp dụng và thi hành án tử hình với người từ 75 tuổi trở lên: Không phủ nhận có trường hợp người đã 75 tuổi phạm tội với vai trò là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy băng nhóm tội phạm, gây ra những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cho xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy đối tượng này phạm tội với vai trò vừa nêu không nhiều; sự sống của người 75 tuổi sẽ không còn nhiều thời gian và người 75 tuổi là đối tượng hưởng chế độ ưu đãi của nhà nước nên không nhất thiết phải loại trừ họ ra ngoài đời sống xã hội./.