1. Vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân và loại tội pháp nhân chịu trách nhiệm hình sự:
a) Về trách nhiệm hình sự của pháp nhân: nhất trí với Loại ý kiến thứ nhất, cần thiết phải quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân với những lý do như trong Phụ lục 1 đã nêu. Tuy nhiên, cũng cần phân định rõ khái niệm về pháp nhân, khi nào thực hiện hành vi nhân danh pháp nhân, khi nào là hành vi của cá nhân; hoàn thiện các quy định về khái niệm pháp nhân, quyền, trách nhiệm pháp lý của pháp nhân ngay từ khi ra quyết định thành lập pháp nhân đó để tránh “lách luật”, lợi dụng pháp nhân để phạm tội vì hình phạt mà pháp nhân phải chịu ít hơn cá nhân.
b) Loại tội mà pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự: nhất trí với Loại ý kiến thứ nhất, đề xuất 32 tội danh pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự. Bởi lẽ, việc quy định các loại tội mà pháp nhân phải chịu TNHS trong dự thảo Bộ luật tương đối bao quát và đủ để xử lý các hành vi vi phạm nghiêm trọng của pháp nhân gây thiệt hại cho kinh tế, môi trường và tính mạng, sức khỏe của con người. Và trong thực tế, nhiều tội danh do pháp nhân gây ra nhưng các cơ quan tư pháp vẫn chưa xử lý triệt để được, gây rất nhiều bức xúc cộng đồng.
2. Về phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên và các biện pháp thay thế xử lý hình sự áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội:
a) Phạm vi chịu trách nhiệm của người chưa thành niên: nhất trí với Loại ý kiến thứ hai, đề nghị giữ nguyên quy định hiện hành (Điều 12): “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng”. Vì nếu quy định như dự thảo thì rất dễ dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm; mặt khác, thực tế hiện nay, tình trạng người chưa thành niên phạm tội ngày càng gia tăng và đa dạng, hầu hết các tội phạm người đã thành niên phạm phải thì người chưa thành niên đều cũng đã vi phạm, nhất là nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự của con người, các tội xâm phạm sở hữu; các tội về ma túy và các tội xâm phạm trật tự, an toàn công cộng...
b) Các biện pháp thay thế xử lý hình sự áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội: nhất trí với Loại ý kiến thứ nhất, việc bổ sung quy định về biện pháp thay thế xử lý hình sự như trong dự thảo BLHS (sửa đổi) là cần thiết để tiếp tục thực hiện chủ trương nhân đạo hóa, tăng tính hướng thiện trong chính sách xử lý hình sự theo tinh thần Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp. Việc bổ sung các quy định này nhằm khắc phục những bất cập của quy định hiện hành, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục tại cộng đồng đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, cũng cần cụ thể hóa các điều kiện để miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên trong một số trường hợp cụ thể, giúp các cơ quan tố tụng có cơ sở pháp lý đầy đủ, rõ ràng để áp dụng trên thực tế.
3. Việc bỏ hình phạt tử hình ở một số tội; quy định không áp dụng hình phạt tử hình, không thi hành án tử hình trong một số trường hợp; quy định không giảm án đối với người bị kết án tử hình nhưng được ân giảm xuống tù chung thân:
a) Về bỏ hình phạt tử hình đối với một số loại tội: Nhất trí với Loại ý kiến thứ hai, không đồng tình với việc bỏ hình phạt tử hình đối với các tội: phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia; phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược; chống loài người; tội phạm chiến tranh; cướp tài sản, vận chuyển trái phép chất ma túy để đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung.
b) Về quy định không thi hành án tử hình đối với người bị kết án tử hình về một số tội phạm, nhưng sau khi bị kết án đã khắc phục về cơ bản hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, tích cực hợp tác với các cơ quan chức năng trong việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc lập công lớn (Điểm c khoản 3 Điều 39 dự thảo): nhất trí với Loại ý kiến thứ hai, không đồng tình với quy định nêu trên. Bởi lẽ, ở khía cạnh nào đó, việc này sẽ dẫn đến cách hiểu là dùng tiền để thoát án tử hình. Mặt khác, đối với trường hợp đã khắc phục hậu quả ở giai đoạn trước khi bản án có hiệu lực hoặc trong thời gian chờ Chủ tịch nước ân giảm thì coi là tình tiết giảm nhẹ để xin ân giảm. Do vậy, trường hợp không được ân giảm thì phải đưa ra thi hành.
c) Về vấn đề giảm án đối với người bị kết án tử hình hoặc ân giảm (khoản 3 Điều 63): nhất trí với Loại ý kiến thứ nhất, tán thành phương án 1 quy định tại khoản 3 Điều 6 (không áp dụng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này). Vì xét từ góc độ quyền sống của con người được quy định trong Hiến pháp 2013 thì việc áp dụng tù chung thân không giảm án, có ý nghĩa lớn đã tạo cho người đã bị kết án tử hình một cơ hội để tiếp tục được sống, được lao động…
d) Về quy định không áp dụng và không thi hành án tử hình đối với người bị kết án từ 75 tuổi trở lên: nhất trí với Loại ý kiến thứ hai, đề nghị không bổ sung quy định này vì thực tế tuổi thọ trung bình nước ta đã được nâng cao hơn trước. Mặt khác, người 75 tuổi vẫn có thể là người chỉ huy các băng nhóm tội phạm. Hơn nữa, tại khoản 2 đã quy định người từ đủ 75 tuổi trở lên, người chưa thành niên, phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng, khi phạm tội đã không áp dụng hình phạt tử hình.
4. Về việc chuyển đổi hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ thành hình phạt tù có thời hạn (Điều 35 và Điều 36 dự thảo): nhất trí với Loại ý kiến thứ hai, không tán thành việc quy định chuyển hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ thành hình phạt tù, vì cùng một lúc không nên áp dụng hai loại hình phạt khác nhau. Nếu người bị kết án không chấp hành hình phạt sẽ bị truy tố về tội không chấp hành bản án; việc chuyển đổi này sẽ làm xấu hơn tình trạng của người phải thi hành án. Mặt khác, có thể mâu thuẫn với nguyên tắc “mỗi tội phạm chỉ phải chịu một loại hình phạt chính”.
5. Về hình phạt Trục xuất: nhất trí với Loại ý kiến thứ nhất, nên giữ nguyên quy định hiện hành, bởi vì xu thế tự do trong khu vực và thế giới, theo đó, hình phạt trục xuất có thể áp dụng là hình phạt chính, có thể là hình phạt bổ sung để đảm bảo sự linh hoạt cho Tòa án trong việc cân nhắc áp dụng hình phạt trục xuất trong từng đối tượng, từng trường hợp phạm tội cụ thể.
6. Về việc thay đổi tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng bằng những tội danh cụ thể trong các lĩnh vực kinh tế: nhất trí với Loại ý kiến thứ nhất, vì những lý do như Phụ lục 1 đã nêu nhằm tăng cường tính minh bạch của BLHS, tránh sự tùy tiện khi áp dụng BLHS để xử lý. Mặt khác, thực tế xét xử một số vụ án về tội này rất khó tuyên án khi chính sách quản lý kinh tế ở nước ta không ổn định, luôn có sự thay đổi.
7. Về việc bổ sung trường hợp xử lý hình sự đối với người trộm cắp tài sản có giá trị dưới 2 triệu đồng: nhất trí với Loại ý kiến thứ hai, đề nghị giữ nguyên như quy định hiện hành, bởi vì nếu tội phạm được thực hiện mà thực tế đã gây ảnh hưởng lớn đến trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống mưu sinh hằng ngày của người dân thì ngoài hậu quả về vật chất là giá trị tài sản, điều luật cũng đã quy định trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” cũng bị coi là tội phạm rồi. Do vậy, người áp dụng pháp luật cần phải xem xét đến các hậu quả khác do tội phạm gây ra để truy cứu trách nhiệm hình sự.
8. Việc bãi bỏ một số tội phạm và bổ sung một số tội phạm mới:
a) Các tội danh dự kiến bãi bỏ (05 tội): nhất trí với Loại ý kiến thứ nhất, bỏ các loại tội danh này vì đây là những tội danh không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay.
b) Việc bổ sung các tội mới (37 tội danh mới): nhất trí với Loại ý kiến thứ nhất, vì việc bổ sung các tội danh này là cần thiết, bao quát các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm thực hiện chủ trương cải cách tư pháp của Đảng, góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân, nhất là quyền về an ninh xã hội, quyền sống trong môi trường an toàn, lành mạnh và giữ gìn trật tự an toàn xã hội.