Cách mạng tháng Mười Nga và Cách mạng Việt Nam
RSS In Gởi cho bạn bè
.
A A 01/11/2017 04:59:05 PM         
Cùng với nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới, chúng ta kỷ niệm 100 năm Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga vĩ đại, khi sự nghiệp đổi mới của đất nước ta đang tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới; chúng ta ngày càng khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử.

Ngày 7-11-1917 (theo lịch cũ của nước Nga là ngày 25 tháng 10 nên gọi là Cách mạng Tháng Mười), lần đầu tiên, công nhân, nông dân, quần chúng lao động bị áp bức bóc lột, dưới sự lãnh đạo của chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, đã đứng lên đập tan ách áp bức, bốc lột của chủ nghĩa tư bản và chế độ phong kiến tồn tại lâu đời ở nước Nga, đưa công nhân, nông dân lên nắm chính quyền, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa.

Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, chủ nghĩa tư bản (CNTB) đã bị chọc thủng một mảng lớn, không còn vai trò độc tôn thống trị toàn thế giới. Một thời đại mới - thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH bắt đầu. Cách mạng Tháng Mười đem lại nhà máy cho công nhân, ruộng đất cho nông dân, hòa bình và hữu nghị cho các dân tộc, bình đẳng, tự do, hạnh phúc cho mọi người. Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, V.I.Lê-nin đã khẳng định rằng, “Chúng ta có quyền tự hào và quả thật chúng ta tự hào là đã có cái hân hạnh được bắt đầu việc xây dựng Nhà nước Xô-viết và do đó mở đầu một thời đại mới trong lịch sử thế giới” (1). Với ý nghĩa đó, Cách mạng Tháng Mười mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử nhân loại. Khẳng định tầm vóc, giá trị to lớn của nó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”(2). 

Khi nhân dân Nga làm cách mạng vô sản thành công thì Việt Nam đang chìm trong đêm dài nô lệ. Với truyền thống yêu nước bất khuất, nhân dân ta không lúc nào ngừng đấu tranh chống đế quốc và tay sai. Song, phong trào yêu nước theo đường lối phong kiến hoặc theo khuynh hướng tư sản đều thất bại, vì đường lối ấy không đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của công nông chiếm hơn 90% dân số. Đường lối ấy không phù hợp với tình hình đất nước và xu thế của thời đại. Giữa lúc đó, Nguyễn Ái Quốc, người  con ưu tú của dân tộc sau 10 năm bôn ba tìm đường cứu nước đã đến với ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lênin, ánh sáng Cách mạng Tháng Mười. Trong tác phẩm “Đường cách mệnh Người viết:Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mác-Lênin” (3).  Tháng 7-1920, khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lê-nin, Nguyễn Ái Quốc đã vui mừng đến phát khóc, ngồi một mình nhưng Người đã nói to như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!” (4). Từ đó, Người khẳng định: “Cách mạng Việt Nam muốn thành công phải đi theo con đường của V.I. Lê-nin, con đường Cách mạng Tháng Mười Nga; muốn cứu nước, giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” (5). Năm 1924, khi trả lời phỏng vấn của phóng viên Giô-van-ni Giéc-man-ét-tô, đăng trên báo L''Unita của Đảng Cộng sản I-ta-li-a, Người nói: “chúng tôi tiếp tục đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười đã vạch ra, chúng tôi sẽ vận dụng vào thực tiễn những bài học đã học được” (6). Đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã được vận dụng một cách sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Hồ Chí Minh và Đảng khẳng định cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc phải đi theo con đường cách mạng vô sản mà “không có con đường nào khác”, song phải sáng tạo. Cách mạng Việt Nam đã liên tiếp giành được nhiều thắng lợi, trong đó có những chiến công mang ý nghĩa lịch sử và tầm vóc thời đại như Cách mạng Tháng Tám năm 1945, với việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó là thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược oanh liệt để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội và quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, lãnh thổ, biển đảo của Tổ quốc ngày nay.

Trong quá trình xây dựng Tổ quốc Việt Nam XHCN, đặc biệt là trong hoàn cảnh xảy ra biến cố lịch sử (Liên Xô sụp đổ, hệ thống XHCN tan rã), bằng nhãn quan chính trị sáng suốt, cùng bản lĩnh và kinh nghiệm, Đảng Cộng sản Việt Nam đã bình tĩnh, giữ vững mục tiêu và con đường đã chọn, kiên định thực hiện đường lối đổi mới (Đại hội VI của Đảng). Chính sự kiên định ấy, sau hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; thế và lực, sức mạnh tổng hợp đất nước tăng lên, uy tín quốc tế của Việt Nam này càng được nâng cao. Những thành tựu đó đã được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII khẳng định: “Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Văn hóa - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao” (7). Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa đó là minh chứng con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và toàn thể dân tộc ta đồng tâm lựa chọn. Đây cũng là cơ sở để mỗi người Việt Nam nhận thức sâu sắc hơn tầm vóc lịch sử, ý nghĩa và giá trị hiện thực của Cách mạng Tháng Mười, của Lênin vĩ đại đối với cách mạng Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung.

Trong những năm tới, chúng ta tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đối ngoại đa phương, chủ động và tích cực đóng góp xây dựng, định hình các thể chế đa phương, trong bối cảnh thế giới và khu vực và trong nước có nhiều thuận lợi đan xen khó khăn, thách thức đòi hỏi phải phát triển đất nước toàn diện, đồng bộ hơn về chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, trong đó phát triển kinh tế là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; xây dựng Đảng về văn hóa, con người làm nền tảng tinh thần; tăng cường quốc phòng, an ninh là trọng yếu thường xuyên.

Hiện nay, chúng ta đang tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ nêu trên, trong bối cảnh bốn ngay cơ mà chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp. Tình trang suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi; hiệu lực, hiệu quả trong tổ chức quản lý và điều hành thực hiện nhiệm vụ của hệ thống chính trị chưa cao; các phần tử cơ hội chính trị, phản động ra sức tàn phá, các thế lực thù địch ráo riết đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”. Để vượt qua các trở ngại này, thì trách nhiệm các cấp ủy Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các thành viên, các tổ chức chính trị - xã hội và các tầng lớp nhân dân phải quyết tâm cao; kiên trì, kiên quyết thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) ‘Tăng cương cường xây dựng chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, gắn với việc thực hiện Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Cùng với đó là thực hiện thắng lợi 03 Nghị quyết về kinh tế mà Hội nghị Trung ương 5, khóa XII đã thống nhất ban hành.

 

Nguyễn Văn Thanh