Giảm mức thuế suất thuế TTĐB đối với dòng xe có dung tích xi lanh dưới 2.000 cm3
RSS In Gởi cho bạn bè
.
A A 26/10/2015 10:18:08 PM         
Chính phủ vừa có Tờ trình trình Quốc hội xem xét sửa dổi, bổ sung Luật thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB), Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) và Luật quản lý thuế tại Kỳ họp thứ 10, để kịp thời tháo gỡ những khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất, nhất là sản xuất, lưu thông nông sản, thủy hải sản trong nước, đồng thời phòng chống tình trạng gian lận về hoàn thuế GTGT; tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý thuế khi thời điểm thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế đang tới gần.

 Chính phủ đề nghị điều chỉnh thuế suất thuế TTĐB đối với đối với dòng xe ô tô từ 9 chỗ trở xuống, điều chỉnh mức thuế suất thuế theo nguyên tắc phân chia thành các nhóm nhỏ hơn quy định tại Luật thuế TTĐB hiện hành. Theo đó giảm mức thuế suất thuế TTĐB hiện hành (45%) đối với dòng xe ưu tiên phát triển có dung tích xi lanh dưới 2.000 cm3 theo lộ trình, cụ thể: Loại có dung tích xi lanh từ 1.000 cm3 trở xuống: áp dụng thuế suất 40%  từ  01/7/2016,  xuống 30%  từ ngày 01/01/2018 và 20% từ ngày 01/01/2019; Loại có dung tích xi lanh trên 1.000 cm3 đến 1.500 cm3: áp dụng thuế suất 40% từ ngày 01/7/2016, xuống 35% từ ngày 01/01/2018  và 25% từ ngày 01/01/2019; Loại có dung tích xi lanh trên 1.500 cm3 đến 2.000 cm3: áp dụng thuế suất 40% từ ngày 01/01/2018, xuống 30% từ ngày 01/01/2019. Tăng thuế suất thuế TTĐB ở mức cao và đặc biệt cao đối với các dòng xe có dung tích xi lanh trên 3.000 cm3 từ ngày 01/7/2016: Loại có dung tích xi lanh trên 3.000 cm3 đến 4.000 cm3 áp dụng thuế suất 90% (tăng 30% so với hiện hành); từ trên 4.000 cm3 đến 5.000 cm3, thuế suất là  110% (tăng 50%); từ trên 5.000 cm3 đến 6.000 cm3, thuế suất là 130% (tăng 70%); trên 6.000 cm3, thuế suất 150% (tăng 90%)

Giữ nguyên thuế suất đối với loại trên 2.000 cm3 đến 2.500 cm3; đối với loại trên 2.500 cm3 đến 3.000 cm3 áp dụng thuế suất 55% từ  ngày 01/01/2018 và từ ngày 01/01/2019 tăng lên mức thuế suất 60%.

Ngoài ra, Luật giá trị gia tăng và Luật quản lý thuế cũng được đề nghị sửa đổi, bổ sung như sau:

Về thuế GTGT: bổ sung quy định không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT đối với sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường;  bỏ quy định hoàn thuế GTGT đối với trường hợp cơ sở kinh doanh có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ lũy kế sau ít nhất mười hai tháng hoặc ít nhất sau bốn quý, thay vào đó doanh nghiệp được kết chuyển số thuế GTGT chưa khấu trừ hết (không hoàn) để khấu trừ vào số thuế GTGT kỳ sau, trừ ; hoàn thuế giá trị gia tăng theo tháng, quý cho Cơ sở kinh doanh trong tháng, quý có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu nếu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ từ ba trăm triệu đồng trở lên.

Về Luật quản lý thuế: bổ sung quy định miễn thuế đối với hộ gia đình, cá nhân có số thuế sử dụng đất phi nông nghiệp phải nộp hàng năm từ 50.000 đồng trở xuống; xóa nợ thuế đối với doanh nghiệp nhà nước trong các trường hợp: đủ điều kiện để thực hiện sắp xếp lại; đã thực hiện cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sở hữu mà khi xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa, giao, bán, khoán, cho thuê cơ quan có thẩm quyền chưa xác định số thuế nợ trong giá trị của doanh nghiệp; đã có quyết định giải thể của cơ quan có thẩm quyền còn nợ tiền thuế, tiền phạt phát sinh mà nguồn tài chính còn lại không đủ để thanh toán nợ thuế theo quy định của pháp luật có liên quan; điều chỉnh tỷ lệ tính tiền chậm nộp thuế tại Luật quản lý thuế theo mức bằng 0,03%/ngày (thay cho mức 0,05%/ngày) trên số tiền thuế chậm nộp để phù hợp với thực tế sản xuất kinh doanh của người nộp thuế.

Các nội dung sửa đổi, bổ sung sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01.01.2016.

Văn Tân