Ban biên tập xin đăng tải các câu hỏi và kết quả trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri tại kỳ họp thứ 9, HĐND tỉnh khóa XI về lĩnh vực tổ chức, chính sách
RSS In Gởi cho bạn bè
.
A A 10/03/2014 03:45:54 PM         

7.1. Cử tri các huyện miền núi phản ánh việc thực hiện biên chế cho ngành kiểm lâm chưa phù hợp với Nghị định 119/2006/NĐ-CP ngày 16/10/2006 của Chính phủ. Đề nghị tỉnh bổ sung biên chế để đảm bảo theo quy định.

Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trả lời:

Theo quy định tại Điều 15, Nghị định 119/2006/NĐ-CP ngày 16/10/2006 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm: “Biên chế của lực lượng Kiểm lâm thuộc biên chế hành chính nhà nước, định mức biên chế Kiểm lâm được tính bình quân toàn quốc, cứ 1.000 ha rừng có một biên chế Kiểm lâm”.

Hiện nay tổng biên chế lực lượng Kiểm lâm Quảng Ngãi được giao là: 177 biên chế; trong đó:

+ Biên chế hành chính là 87.

+ Biên chế sự nghiệp là  90.

Theo đánh giá của Tổ Kiểm toán Nhà nước (trong Biên bản Kiểm toán ngày 06/7/2013) “Diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi là 296.060 ha; trong đó diện tích đất có rừng là 229.000 ha. Như vậy, biên chế hành chính của Kiểm lâm phải là 296 biên chế. Định mức biên chế hành chính được giao cho Chi cục Kiểm lâm hiện còn thiếu 142 biên chế (không tính 90 biên chế sự nghiệp, vì lực lượng Kiểm lâm thuộc biên chế hành chính nhà nước)”

Việc thiếu biên chế của lực lượng Kiểm lâm Quảng Ngãi, Sở Nông nghiệp và PTNT Quảng Ngãi đã có văn bản kiến nghị cấp có thẩm quyền trước mắt chuyển đổi từ số viên chức Kiểm lâm hiện có sang công chức Kiểm lâm để phục vụ yêu cầu chính trị của lực lượng Kiểm lâm. Tuy nhiên, đến nay chưa được cấp thẩm quyền xem xét giải quyết.

Ngoài ra, hàng năm Sở Nông nghiệp và PTNT có văn bản đề nghị bổ sung biên chế cho Chi cục Kiểm lâm theo diện tích rừng hiện có, nhưng chưa được bổ sung biên chế theo quy định.

Sở Nông nghiệp và PTNT đề nghị:

- Từng bước cho lực lượng Kiểm lâm Quảng Ngãi chọn lọc chuyển đổi một số đối tượng từ viên chức đáp ứng yêu cầu sang ngạch công chức để phục vụ công tác theo quy định.

- Hàng năm bổ sung biên chế hành chính cho Chi cục Kiểm lâm tỉnh để đảm bảo 1.000 ha rừng có 01 biên chế Kiểm lâm theo quy định tại Nghị định 119/2006/NĐ-CP ngày 16/10/2006 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm.

7.2. Cử tri trong tỉnh phản ánh hiện nay mức phụ cấp đối với nhân viên Thú y xã quá thấp (nguồn Chi cục Thú y tỉnh chi trả 0,95%, ngân sách xã hỗ trợ 0,2% lương tối thiểu), chưa được hỗ trợ bảo hiểm y tế. Đề nghị UBND tỉnh quan tâm xem xét.

Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trả lời:

Theo Nghị định số 33/2005/NĐ-CP ngày 15/3/2005 của Chính phủ về việc Quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Thú y, tại Khoản 1, Điều 4 có quy định:

Đối với các xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là cấp xã) có nhân viên thú y thì “Phụ cấp cho nhân viên thú y cấp xã do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định, kinh phí này được lấy từ nguồn ngân sách của địa phương”.

Đến 2007, Thủ tướng Chính phủ ban hành Công văn số 1569/TTg-NN ngày 19/10/2007 về việc hỗ trợ đối với nhân viên thú y cấp xã, đồng ý nguyên tắc để các địa phương hỗ trợ cho nhân viên thú y xã bằng hệ số 1 so với mức lương tối thiểu hiện hành và tùy theo tình hình thực tế của địa phương, UBND tỉnh quyết định mức hỗ trợ cho phù hợp.

Sau đó, Bộ Tài chính có Công văn số 16311/BTC-NSNN ngày 28/11/2007 về việc hỗ trợ nhân viên thú y cấp xã  hướng dẫn các địa phương thời điểm thực hiện bắt đầu từ ngày 01/10/2007.

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và của Bộ Tài chính, UBND tỉnh Quảng Ngãi có Công văn số 3819/UBND-TCTM ngày 20/12/2007 quy định mức phụ cấp hàng tháng đối với nhân viên thú y cấp xã bằng hệ số 0,9 nhân với  mức lương tối thiểu hiện hành, lấy từ nguồn kinh phí Trung ương hỗ trợ 1/3 tổng kinh phí, còn 2/3 là ngân sách tỉnh hỗ trợ và giao cho Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp với Sở Tài chính hướng dẫn Chi cục Thú y thực hiện chế độ phụ cấp hằng tháng đối với nhân viên thú y cấp xã; quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí theo quy định hiện hành của Nhà nước, cụ thể như sau:

- Từ ngày 01/10/2007 đến ngày 31/12/2007 nhân viên thú y xã được hưởng phụ cấp hàng tháng là: 0,9 x 450.000đ/tháng = 405.000 đồng.

- Từ ngày 01/01/2008 áp dụng mức lương tối thiểu theo quy định mới của Trung ương.

Thực hiện chấp hành ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và PTNT giao Chi cục Thú y lập dự toán (trình các cấp phê duyệt) và chi trả phụ cấp hàng tháng cho nhân viên thú y cấp xã theo quy định từ ngày 01/10/2007 cho đến ngày 10/5/2011 với mức phụ cấp bằng hệ số 0,9 nhân với  mức lương tối thiểu hiện hành.

Tại kỳ họp thứ 23 - khóa X ngày 16/4/2010, HĐND tỉnh đã thông qua Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐND quy định chức danh và mức phụ cấp hằng tháng đối với những người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn và ở thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

Ngay sau đó, ngày 05/5/2010 UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 09/2010/QĐ-UBND quy định số lượng, chức danh và mức phụ cấp hàng tháng đối với những người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn và ở tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi theo đó đã quy định: mỗi xã có một cán bộ khuyến nông -  thú y cơ sở hoạt động không chuyên trách và được hưởng mức phụ cấp là 0,95 nhân với  mức lương tối thiểu hiện hành và giao cho huyện, thành phố thực hiện.

 Việc chi trả và cấp bổ sung kinh phí phụ cấp nhân viên thú y xã theo Quyết định số 09/2010/QĐ-UBND ngày 05/5/2010  đã được Sở Nông nghiệp và PTNT có văn bản tham mưu UBND tỉnh và được chấp thuận tại Công văn 1260/UBND-NNTN ngày 10/5/2011, cụ thể tính như sau:

- Năm 2010, chi trả: 184 người x (730.000đ x 0,05) x 7 tháng = 47.012.000đ.

- Năm 2011, cấp bổ sung: 184 người x (730.000đ x 0,05) x 12 tháng = 80.592.000đ.

Sau khi được phân bổ kinh phí, Sở Nông nghiệp và PTNT đã chỉ đạo cho Chi cục Thú y chi truy lĩnh cho nhân viên thú y cấp xã 7 tháng năm 2010, 4 tháng năm 2011 và bắt đầu từ tháng 5/2012 trở đi nhân viên thú y cấp xã được nhận phụ cấp 0,95 nhân với mức lương tối thiểu hiện hành.

Tại kỳ họp thứ 5, khóa XI, ngày 12/7/2012 HĐND tỉnh đã thông qua Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐND quy định chức danh và mức phụ cấp hằng tháng đối với những người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn và ở thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi và Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐND quy định một số chế độ chính sách đối với những người hoạt động không chuyên trách ở xã và thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

Sau đó, ngày 30/7/2012, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 20/2012/QĐ-UBND quy định số lượng, chức danh và mức phụ cấp hàng tháng đối với những người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn và ở tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, theo đó đã quy định: mỗi xã có một cán bộ khuyến nông - thú y cơ sở hoạt động không chuyên trách và được hưởng mức phụ cấp vẫn là 0,95 nhân với mức lương tối thiểu hiện hành và Quyết định số 21/2012/QĐ-UBND quy định quy định một số chế độ chính sách đối với những người hoạt động không chuyên trách ở xã và thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi quy định cán bộ khuyến nông - thú y cơ sở hoạt động không chuyên trách được hưởng các mức hỗ trợ từ ngày 01/01/2012 và giao cho huyện, thành phố thực hiện. Cụ thể được quy định như sau:

- Hỗ trợ phụ cấp: Ngoài mức phụ cấp hàng tháng được hưởng theo quy định, được hỗ trợ thêm là 25% của mức phụ cấp hiện hưởng.

- Hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện: Ngân sách hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện bằng 17% so với mức lương tối thiểu chung, phần còn lại cá nhân tự đóng theo mức tự nguyện trong khung quy định.

- Hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế: Ngân sách hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện bằng 3% so với mức lương tối thiểu chung, phần còn lại cá nhân tự đóng theo mức quy định.

Sở Nông nghiệp và PTNT căn cứ Quyết định số 20/2012/QĐ-UBND và Quyết định số 21/2012/QĐ-UBND tham mưu trình UBND tỉnh chi trả và cấp bổ sung kinh phí  phụ cấp nhân viên thú y xã năm 2012 là 625.006.600đ, cụ thể như sau:

- Hỗ trợ phụ cấp 25% của mức phụ cấp hiện hưởng tính từ ngày 01/8/2012:

   184 người x ( 1.050.000đ x(0,95 x 25%) ) x 05 tháng = 229.425.000đ

- Hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội bằng 17% so với mức lương tối thiểu chung tính từ ngày 01/01/2012:

  184 người x [(830.000đ x 17%) x 4 tháng + (1.050.000đ x 17%) x 8 tháng ] = 366.601.600 đ

- Hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế bằng 3% so với mức lương tối thiểu chung tính từ ngày 01/8/2012:

  184 người x ( 1.050.000đ x 3% ) x 05 tháng = 28.980.000đ

Nội dung tham mưu đề nghị chi trả các mức cụ thể như trên Sở Nông nghiệp và PTNT có Tờ trình số 1441/SNN&PTNT ngày 20/9/2012 gửi Sở Tài chính xem xét trình UBND tỉnh nhưng đến nay Sở Tài chính vẫn chưa có tham mưu trình UBND tỉnh.

Do vậy, đến nay Chi cục Thú y chỉ chi trả phụ cấp hàng tháng cho nhân viên thú y xã là 0,95 nhân với mức lương tối thiếu hiện hành, còn các chế độ chính sách về hỗ trợ phụ cấp thêm bằng 25% mức phụ cấp hiện hưởng, hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện 17% so với mức lương tối thiểu chung và hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế 3% so với mức lương tối thiểu chung theo Quyết định số 21/2012/QĐ-UBND của UBND tỉnh chưa thực hiện được.

 Trên thực tế, hiện nay có một số xã đã chi trả cho nhân viên thú y có sự khác nhau, như sau:

- Huyện Bình Sơn:  Có 09 xã (Bình Thanh Tây, Bình Thanh Đông, Bình Thạnh, Bình Khương, Bình An, thị trấn Châu Ổ, Bình Hải, Bình Trị và Bình Phước) thực hiện chi trả theo 02 Quyết định trên. Còn số xã khác Chi cục Thú y chi trả 0,95 nhân với mức lương tối thiểu.

- Huyện Mộ Đức: có 05 xã (Đức hòa, Đức Thạnh, Đức Minh, Đức Lợi và Đức Nhuận)  thực hiện chi trả theo 02 Quyết định trên và Chi cục Thú y thì chi trả với hệ số 0,95 nhân với mức lương tối thiểu. Còn số xã khác Chi cục Thú y chi trả 0,95 nhân với mức lương tối thiểu.

- Huyện Đức Phổ: có 01 xã (Phổ Minh) thực hiện chi trả theo 02 Quyết định trên và Chi cục Thú y thì chi trả với hệ số 0,95 nhân với mức lương tối thiểu. Còn số xã khác Chi cục Thú y chi trả cho một nhân viên thú y bằng  0,95 nhân với mức lương tối thiểu.

- Huyện Nghĩa Hành có 03 xã (Hành Tín Tây, Hành Thịnh và Hành Đức)  ngoài việc Chi cục Thú y chi trả với hệ số 0,95 nhân với mức lương tối thiểu, còn được xã chi trả thêm phụ cấp 20%. Còn số xã khác Chi cục Thú y chi trả 0,95 nhân với mức lương tối thiểu.

- Huyện Sơn Hà: có 01 xã (Sơn Giang ) thực hiện chi trả theo 02 Quyết định trên và Chi cục Thú y chi trả với hệ số 0,95 nhân với mức lương tối thiểu. Còn số xã khác Chi cục Thú y chi trả 0,95 nhân với mức lương tối thiểu, ngoài ra xã hợp đồng thêm một cán bộ khuyến nông và chi trả bằng 0,95 nhân với mức lương tối thiểu từ nguồn kinh phí 30a (do Trạm Khuyến nông huyện chi trả)

- Huyện Tây Trà mỗi xã có một nhân viên thú y do Chi cục Thú y chi trả với hệ số 0,95 nhân với mức lương tối thiểu và xã hợp đồng thêm một cán bộ khuyến nông và chi trả bằng  0,95 nhân với mức lương tối thiểu từ nguồn kinh phí 30a ( do Trạm Khuyến nông huyện chi trả )

- Huyện Ba Tơ: có 02 xã (Ba Cung và Ba Liên) ngoài việc Chi cục Thú y chi trả với hệ số 0,95 nhân với mức lương tối thiểu, còn được xã chi trả thêm phụ cấp 20%; xã Ba Khâm ngoài việc Chi cục Thú y chi trả với hệ số 0,95 nhân với mức lương tối thiểu, còn được xã chi trả thêm phụ cấp 0,95 từ nguồn kinh phí 30a.

- Huyện Trà Bồng: có 01 xã (Trà Thủy) thực hiện chi trả theo 02 Quyết định trên và Chi cục Thú y chi trả với hệ số 0,95 nhân với mức lương tối thiểu.

- Các xã của các huyện còn lại chỉ có một nhân viên thú y xã và hưởng một chế độ phụ cấp hệ số 0,95 nhân với mức lương tối thiểu do Chi cục Thú y chi trả.

Trong hoạt động thực tiễn của ngành đã cho thấy: ở các xã, phường, thị trấn nhân viên thú y xã do Chi cục Thú y chi trả phụ cấp, quản lý, điều hành hoạt động thì công tác phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm tại địa phương có nhiều thuận lợi hơn.

Từ thực tế đó,  Sở Nông nghiệp và PTNT đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo thống nhất cho mỗi xã một nhân viên thú y xã như trước đây, thực hiện chức năng thú y và khuyến nông và hưởng chế độ theo Quyết định số 20/2012/QĐ-UBND và Quyết định số 21/2012/QĐ-UBND và được thực hiện theo cơ chế như sau:

- Phần phụ cấp bằng 0,95 nhân với mức lương tối thiểu hiện hành theo quy định Quyết định số 20/2012/QĐ-UBND thì giao cho Chi cục Thú y chi trả và quản lý như hiện nay.

- Phần chế độ, chính sách hỗ trợ khác: Hỗ trợ phụ cấp 25% mức phụ cấp hiện hưởng, hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội bằng 17% nhân với lương tối thiểu và hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế bằng 3% nhân với lương tối thiểu giao cho huyện, thành phố hỗ trợ theo quy định của Quyết định số 21/2012/QĐ-UBND.

7.3. Cử tri huyện Sơn Tịnh phản ánh tại Quyết định số 14/2009 ngày 16/3/2009 của UBND tỉnh ban hành quy chế và đầu tư xây dựng khu dân cư trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi thì đối tượng hộ nghèo được xem xét cấp đất ở. Đề nghị tỉnh xem xét có chủ trương xét cấp đất ở cho cả đối tượng hộ cận nghèo.

UBND huyện Sơn Tịnh trả lời:

- Tại Điều 9 Quy chế đầu tư và xây dựng khu dân cư trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi ban hành kèm theo Quyết định số 14/2009/QĐ-UBND ngày 16/3/2009 của UBND tỉnh Quảng Ngãi thì việc phân bổ quỹ đất của dự án đấu giá quyền sử dụng đất sau khi đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật được quy định: “Quỹ đất (số lô đất) trong khu quy hoạch dân cư theo thiết kế được cấp có thẩm quyền phê duyệt được phân bổ như sau:

- Để lại không quá 15% số lô đất để xét giao cho các đối tượng theo quy định tại Điều 7 Quy định này.

- Quỹ đất còn lại của dự án để đấu giá quyền sử dụng đất”.

Theo đó, việc xét, giao đất xây dựng nhà ở tại các điểm quy hoạch khu dân cư trên địa bàn huyện Sơn Tịnh được thực hiện theo đúng quy định tại Điều 7 Quy chế đầu tư và xây dựng khu dân cư trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi ban hành kèm theo Quyết định số 14/2009/QĐ-UBND ngày 16/3/2009 của UBND tỉnh Quảng Ngãi, cụ thể như sau:

“Đối tượng được xét giao đất xây dựng nhà ở:

Là công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thuộc một trong các trường hợp sau:

1. Đối tượng chính sách; hộ dân thuộc diện nghèo phải đủ các điều kiện sau:

a) Phải đủ 18 tuổi trở lên.

b) Chưa có nhà ở, đất ở riêng trên địa bàn tỉnh, chưa được giao đất ở hoặc hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở.

c) Có hộ khẩu thường trú tại địa phương (xã, thị trấn đối với các huyện; xã, phường thuộc thành phố Quảng Ngãi).

2. Trường hợp cán bộ, công chức chuyển nơi công tác theo quyết định điều động của cơ quan có thẩm quyền.

3. Đối tượng tái định cư”.

Tuy nhiên, thực tế trên địa bàn huyện đối tượng hộ cận nghèo rất cần nhu cầu đất ở nhưng không có điều kiện để đấu giá quyền sử dụng đất ở. Vì vậy, kính đề nghị UBND tỉnh, HĐND tỉnh cần xem xét điều chỉnh Quyết định số 14/2009/QĐ-UBND ngày 16/3/2009 của UBND tỉnh Quảng Ngãi bổ sung đối tượng được xét cấp đất ở cho đối tượng hộ cận nghèo.

7.4. Cử tri huyện Sơn Tịnh phản ánh tại Quyết định số 04/2012 ngày 02/3/2012 của UBND tỉnh về hạn mức giao đất để xây dựng nhà ở, quy định việc xác lập diện tích đất ở căn cứ vào sổ đăng ký ruộng đất (số 5B) mới được xác lập hồ sơ, còn lại các trường hợp khác hình thành trước 18/12/1980 do cha, mẹ đứng tên, khi cha mẹ chết sang tên cho con, cháu thì không được xác lập hoàn toàn diện tích đất ở theo diện 299 mà chỉ xác định 200 - 400m2 là bất hợp lý. Đề nghị tỉnh xem xét, điều chỉnh hợp lý.

UBND huyện Sơn Tịnh trả lời:

Vấn đề này đã được quy định cụ thể tại Quyết định số 04/2012/QĐ-UBND ngày 02/3/2012 của UBND tỉnh Quảng Ngãi và đã được UBND tỉnh Quảng Ngãi trả lời tại Báo cáo số 125/BC-UBND ngày 01/7/2013 về việc tổng hợp kết quả giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri tại kỳ họp thứ 7 còn lại chưa thực hiện, những nội dung trả lời chưa thỏa đáng và những ý kiến, kiến nghị mang tính bức xúc, cụ thể:

“Trường hợp thửa đất ở hình thành trước ngày 18/12/1980 và người sử dụng đất có kê khai đăng ký đất theo Chỉ thị 299/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (hoặc thu hồi đất để thực hiện dự án) thì được xác định toàn bộ diện tích thửa đất là đất ở và người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất (trường hợp Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án thì bồi thường toàn bộ thửa đất là đất ở).

Trong quá trình sử dụng đất người sử dụng đất có kê khai đăng ký đất theo Chỉ thị 299/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã chuyển nhượng, tặng cho người khác, nay người nhận chuyển nhượng (hoặc người được tặng cho) được thực hiện xác định lại diện tích đất ở (chuyển mục đích sử dụng đất không phải xin phép) tương tự như việc xác định lại diện tích đất ở đối với người chuyển nhượng, tặng cho ”.

Kính đề nghị UBND tỉnh, HĐND tỉnh xem xét, có cơ chế thực hiện xác lập toàn bộ diện tích đất ở theo diện Chỉ thị 299/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ đối với các trường hợp khác theo ý kiến kiến nghị của cử tri nêu trên, để phù hợp với thực tế và nguyện vọng của nhân dân.

7.5. Cử tri các xã bãi ngang trong tỉnh phản ánh việc qui định khi tách thửa phải đảm bảo diện tích 100 m2 trở lên mới tách thửa là bất hợp lý. Đề nghị UBND tỉnh xem xét điều chỉnh cho phù hợp

Sở Tài nguyên và Môi trường trả lời:

Hiện nay, Sở Tài nguyên và Môi trường đã có văn bản lấy ý kiến các Sở, ngành và địa phương, đang tổng hợp và dự thảo Quyết định của UBND tỉnh để thay thế Quyết định số 22/2009/QĐ-UBND ngày 24/4/2009 ban hành Quy định diện tích tối thiểu tách thửa đất và trình tự, thủ tục tách thửa, hợp thửa đất khi người sử dụng đất có nhu cầu tách thửa, hợp thửa trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi cho phù hợp với thực tế (nhất là các xã bãi ngang ven biển). Dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2013.

7.6. Cử tri trong trong tỉnh kiến nghị tỉnh xem xét và sớm đưa vào định biên các chức danh văn phòng Đảng ủy, Ủy ban kiểm tra Đảng ủy và cán bộ chuyên trách làm công tác dân số kế hoạch hóa gia đình ở  xã, phường, thị trấn.

Sở Nội vụ trả lời:

1. Căn cứ Điều 61 Luật cán bộ, công chức và Điều 3 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ quy định cán bộ, công chức cấp xã có các chức vụ, chức danh sau đây:

a) Cán bộ cấp xã có các chức vụ: Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

b) Công chức cấp xã có các chức danh: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hoá - xã hội.

Do vậy, các chức danh văn phòng Đảng ủy, Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy và cán bộ chuyên trách làm công tác dân số kế hoạch hóa gia đình ở xã, phường, thị trấn không thuộc các chức vụ, chức danh cán bộ, công chức do Luật cán bộ công chức và Nghị định số 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy định.

2. Căn cứ khoản 4 Điều 84 Luật cán bộ công chức quy định: Chính phủ quy định khung số lượng, chế độ, chính sách đối với những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; căn cứ Điều 13 và khoản 3 Điều 14 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐND ngày 12/7/2012 quy định chức danh và mức phụ cấp hằng tháng đối với những người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn và ở thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, trong đó các chức danh: văn phòng Đảng ủy, Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy và cán bộ làm công tác dân số kế hoạch hóa gia đình thuộc định biên các chức danh của những người hoạt động không chuyên trách.

3. Sở Nội vụ tỉnh Quảng Ngãi nhận thấy: chức danh, số lượng cán bộ công chức ở cấp xã và chức danh, số lượng những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và ở thôn, tổ dân phố theo quy định của Pháp luật và đang tổ chức thực hiện ở địa phương là phù hợp.

7.7. Cử tri trong tỉnh phản ánh kiến nghị tỉnh cần sớm hỗ trợ đầy đủ, kịp thời nguồn kinh phí xây dựng nhà ở thuộc diện hộ nghèo được cải thiện nhà ở theo Quyết định 167 của Thủ tướng Chính phủ.

Sở Xây dựng trả lời:

Sở Xây dựng xin giải trình như sau:

1. Đối với 12.744 hộ được hỗ trợ về nhà ở theo Đề án đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định 1037/QĐ-UBND ngày 29/6/2009, với tổng số vốn cần có để thực hiện là: 305,856 tỷ đồng (Bao gồm: Ngân sách trung ương: 94,538 tỷ đồng; Ngân sách địa phương: 8,594 tỷ đồng; Vốn vay tín dụng ưu đãi: 101,952 tỷ đồng; Vốn huy động từ Quỹ Vì người nghèo do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam vận động từ các doanh nghiệp: 89,208 tỷ đồng và vốn dự kiến huy động từ cộng đồng, dòng họ và chính hộ gia đình được hỗ trợ: 11,563 tỷ đồng).

Đến nay, các nguồn vốn nêu trên được UBND tỉnh phân bổ cho các địa phương và đã được giải ngân đầy đủ cho các hộ dân để xây xây dựng nhà ở theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

2. Đối với 8.410 hộ được bổ sung hỗ trợ về nhà ở theo Đề án đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định 1030/QĐ-UBND ngày 09/7/2012:

Thực hiện yêu cầu của Bộ Xây dựng, trên cơ sở rà soát và báo cáo của UBND các huyện, thành phố; Sở Xây dựng đã tổng hợp, lập đề án bổ sung và được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 1586/QĐ-UBND ngày 12/12/2010, Quyết định số 1030/QĐ-UBND ngày 09/7/2012 về việc sửa dổi, bổ sung Điều 1, định số 1586/QĐ-UBND ngày 12/12/2010, tổng số hộ bổ sung là 8.410 hộ, với tổng vốn hỗ trợ là 201,840 tỷ đồng.

Trong đó:

- Vốn ngân sách trung ương: 57,304 tỷ đồng;

- Vốn ngân sách địa phương: 11,461 tỷ đồng;

- Vốn vay tín dụng ưu đãi: 67,280 tỷ đồng;

- Vốn dự hiến huy động từ Quỹ Vì người nghèo do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam vận động từ các doanh nghiệp: 58,870 tỷ đồng;

- Vốn dự kiến huy động từ cộng đồng, dòng họ và chính hộ gia đình được hỗ trợ: 6,925 tỷ đồng.

Trên cơ sở nguồn vốn đã bố phí của Trung ương, ngày 24/8/2012 UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1270/QĐ-UBND về việc phân bổ kinh phí hỗ trợ cho hộ nghèo là nhà ở theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cho 6.723/8.410 hộ, với tổng kinh phí được phân bổ là 161,352/201,840 tỷ đồng để các địa phương triển khai thực hiện hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo trên địa bàn.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện việc huy động các vốn còn gặp nhiều khó khăn, cụ thể chỉ thực hiện được: Vốn ngân sách trung ương 47,061/57,304 tỷ đồng; vốn ngân sách địa phương 9,412/11,461 tỷ đồng; vốn vay tín dụng ưu đãi đã bố trí 19,377/53,784 tỷ đồng đã bố trí cho các địa phương để triển khai thực hiện. Riêng đối với nguồn vốn dự hiến huy động từ Quỹ Vì người nghèo do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam vận động từ các doanh nghiệp 58,870 tỷ đồng chưa huy động được nên rất khó khăn cho việc triển xây dựng nhà ở cho các hộ nghèo.

Trước những khó khăn về nguồn vốn huy động, nhằm kịp thời triển khai thực hiện hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở trên địa bàn hoàn thành theo đúng kế hoạch. Ngày 25/9/2012, Sở Xây dựng có Công văn số 1077/SXD-QLN&BĐS về việc kinh phí hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg đề nghị các Bộ, ngành Trung ương đề xuất, tham mưu Thủ tướng Chính phủ tiếp tục bố trí nguồn vốn Trung ương còn thiếu 10,239 tỷ đồng; đặc biệt là đề nghị các Bộ, ngành Trung ương đề xuất, tham mưu Thủ tướng Chính phủ chỉ định đơn vị tiếp hỗ trợ nguồn vốn 58,870 tỷ đồng (nguồn vốn dự hiến huy động từ Quỹ Vì người nghèo do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam vận động từ các doanh nghiệp) cho tỉnh Quảng Ngãi để thực hiện xây dựng nhà ở cho hộ nghèo, nhưng đến nay nguồn vốn 58,870 tỷ đồng này vẫn chưa được bố trí và huy động được.

Bên cạnh đó, để giảm giá thành xây dựng, đảm bảo đầy đủ nguồn kinh phí hỗ trợ cho hộ nghèo, tạo điều kiện cho hộ nghèo có thể cải thiện nhà ở theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg. Trên cơ sở ý kiến Bộ Xây dựng và tham mưu của Sở Xây dựng tại Báo cáo số 132/BC-ĐCT 167 ngày 31/01/2016; Công văn số 610/SXD-QLN&BĐS ngày 10/6/2013 về việc thực hiện hỗ trợ hộ nghèo được về nhà ở,  UBND tỉnh có Công văn số 699/UBND-CNXD ngày 04/3/2013 và số 2076/UBND-CNXD ngày 10/6/2013 về các giải pháp đẩy nhanh tiến độ thực hiện hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; theo đó Chủ tịch UBND tỉnh có ý kiến chỉ đạo cụ thể như sau:

- UBND các huyện, thành phố: Phê duyệt danh sách và gửi cho Ngân hàng Chính sách xã hội - Chi nhánh Quảng Ngãi thông qua Phòng Giao dịch Ngân hàng chính sách tại các huyện, thành phố để triển khai cho vay theo quy định; hướng dẫn cho các hộ dân được hỗ trợ nhà ở có thể xây dựng mới hoặc cải tạo, sửa chữa, nâng cấp nhà đã có nhưng phải đảm bảo diện tích và chất lượng theo quy định.

- Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh: Kiến nghị Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam cho phép Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Quảng Ngãi tiến hành cho vay đối với các hộ đã nhận được tiền hỗ trợ từ nguồn vốn Ngân sách, chưa nhận được nguồn vốn hỗ trợ từ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đã triển khai làm nhà.

- Đề nghị Uỷ ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh: Đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục hỗ trợ nguồn kinh phí 58.870,0 triệu đồng để kịp thời hỗ trợ cho các hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn tỉnh; Trước mắt xem xét cân đối nguồn kinh phí đã được huy động từ Quỹ “Ngày vì người nghèo” của tỉnh để hỗ trợ cho các hộ nghèo về nhà ở đã và đang thực hiện xây dựng nhà với kinh phí khoảng 21.952 triệu đồng (tương đương với 3.136 hộ, trong tổng số 8.410 hộ bổ sung).

Mặc dù trong thời gian qua UBND tỉnh có nhiều biện pháp chỉ đạo thực hiện, phối hợp với UBMT Tổ quốc Việt Nam tỉnh huy động nguồn vốn để hỗ trợ cho các hộ nghèo xây dựng nhà ở, nhưng đến nay nguồn vốn huy động từ Quỹ Vì người nghèo do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam vận động từ các doanh nghiệp (58,870 tỷ đồng) chưa huy động được nên chưa có kinh phí để phân bổ cho các hộ nghèo xây dựng nhà ở theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ như nội dung kiến nghị của cử tri.

7.8. Cử tri là Doanh nghiệp trong tỉnh phản ánh tình trạng cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư để tạo điều kiện cho Doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay tại một số cơ quan, đơn vị không được thực hiện nghiêm túc, nhất là Ban quản lý các khu công nghiệp của tỉnh, gây ảnh hưởng đến môi trường thu hút đầu tư của tỉnh. Đề nghị UBND tỉnh có biện pháp kiểm tra, chấn chỉnh kịp thời.

Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh trả lời:

Ban Quản lý được thành lập theo Quyết định số 830/TTg ngày 07/10/1997 của Thủ tướng Chính phủ; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Quản lý được UBND tỉnh ủy quyền phân công tại Quyết định số 03/2012/QĐ-UBND ngày 01/3/2012. Theo đó, Ban Quản lý có chức năng cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án đầu tư vào các KCN của tỉnh. Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, Ban Quản lý luôn hướng dẫn Nhà đầu tư để thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định. Đối với những dự án đầu tư có ngành nghề đầu tư theo quy hoạch KCN được duyệt, suất đầu tư phù hợp, tài chính khả thi,... Ban Quản lý thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư để Nhà đầu tư triển khai dự án đúng tiến độ. Tuy nhiên, đối với những dự án đầu tư có ngành nghề không phù hợp với quy hoạch KCN, Nhà đầu tư chưa chứng minh tài chính để thực hiện dự án đầu tư hoặc dự án mà trong quá trình hoạt động sẽ gây ô nhiễm đến các nhà máy lân cận hoặc những dự án sử dụng diện tích quá lớn mà hiện tại KCN không thể đáp ứng được quy mô diện tích cũng như cơ sở hạ tầng..., Ban Quản lý tổ chức cuộc họp để thông tin hoặc có văn bản trả lời đến Nhà đầu tư về việc từ chối cấp phép đầu tư. Ngoài ra, có một số dự án trong quá trình đang hoạt động sản xuất kinh doanh tự ý chuyển đổi ngành nghề đầu tư đã đăng ký mà chưa có sự chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước, Ban Quản lý có văn bản tạm đình chỉ việc đầu tư chuyển đổi, khi đảm bảo các điều kiện liên quan thì mới được tiếp tục đầu tư.

Trong những năm qua, áp dụng cơ chế một cửa liên thông cùng với các chính sách hỗ trợ đầu tư của tỉnh, các dự án thu hút đầu tư vào các KCN ngày càng tăng về số lượng và chất lượng; đặc biệt thu hút được các dự án lớn có vốn đầu tư nước ngoài như dự án Nhà máy giầy Rieker tại Quảng Ngãi của Công ty giầy Rieker Việt Nam; dự án Nhà máy sản xuất linh kiện điện tử FVQ của Công ty TNHH Điện tử Foster (Quảng Ngãi),…các dự án đi vào hoạt động đã góp phần tăng nguồn thu ngân sách tỉnh nhà, giải quyết việc làm trên 12.000 lao động, có tác động tích cực đến việc an sinh xã hội của tỉnh và quảng bá hình ảnh tỉnh Quảng Ngãi, các KCN Quảng Ngãi trên cả nước và thế giới.

Song song với việc cấp Giấy chứng nhận đầu tư, thực hiện Chỉ thị số 07/ CT-TTg ngày 02/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc chấn chỉnh công tác quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động của các Khu kinh tế, Khu công nghiệp, Cụm công nghiệp và các văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh, Ban Quản lý thực hiện việc rà soát, giải quyết các dự án đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư nhưng đầu tư kém hiệu quả hoặc triển khai chậm tiến độ nhằm tránh lãng phí đất công nghiệp. Kết quả rà soát được báo cáo thường xuyên đến UBND tỉnh.

Trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế hiện nay, việc thu hút các dự án đầu tư vào tỉnh nói chung và các KCN nói riêng thật sự khó khăn. Vì vậy, đơn giản hóa thủ tục hành chính, cơ chế thông thoáng trong lĩnh vực đầu tư là thật sự cần thiết nhằm nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Tuy nhiên, để hạn chế việc rà soát, giải quyết các dự án kém hiệu quả, việc cấp giấy chứng nhận đầu tư cho một số dự án đăng ký đầu tư cũng cần có sự lựa chọn, dự án phải được xem xét kỹ về các vấn đề liên quan như: công nghệ, tài chính, môi trường... Do đó, Nhà đầu tư có dự án không đảm bảo theo các tiêu chí nói trên sẽ có thái độ không hài lòng khi Ban Quản lý từ chối cấp Giấy chứng nhận đầu tư là điều không thể tránh khỏi.

7.9. Cử tri trong tỉnh phản ánh thiết chế văn hóa, thể thao ở cơ sở đầu tư còn quá hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt lành mạnh của đoàn viên thanh niên và nhân dân; cần quan tâm đầu tư các điểm Internet công cộng tại địa bàn nông thôn, miền núi để có nhiều cơ hội tiếp cận thông tin. Đề nghị UBND tỉnh xem xét.

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trả lời:

a) Về việc thiết chế văn hóa, thể thao ở cơ sở đầu tư còn quá hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt lành mạnh của đoàn viên thanh niên và nhân dân:

Trong những năm gần đây, công tác xây dựng thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở trên địa bàn tỉnh được các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân quan tâm đầu tư xây dựng, Nghị quyết Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ XVIII đã đề ra nhiệm vụ “Chăm lo phát triển văn hóa, thể dục, thể thao. Xây dựng và nâng cao hiệu quả các thiết chế văn hóa từ tỉnh đến cơ sở”. Đến nay, một số huyện, thành phố đã xây dựng Quy hoạch hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao và lồng ghép trong Đề án “Xây dựng nông thôn mới” như thành phố Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn, Nghĩa Hành, Tư Nghĩa, Sơn Hà. Toàn tỉnh có 06 Trung tâm Văn hóa – Thể thao và 01 Trung tâm Thể thao cấp huyện; có 23 xã, phường, thị trấn có nhà văn hóa và có 493 nhà sinh hoạt văn hoá thôn. Nhìn chung, mức đầu tư xây dựng mỗi Trung tâm Văn hóa - Thể thao xã khoảng từ 200 - 500 triệu đồng và thôn khoảng 50-200 triệu đồng, từ các nguồn kinh phí khác nhau.

Nhằm khắc phục những hạn chế trong công tác xây dựng thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở, đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt lành mạnh của đoàn viên thanh niên và nhân dân, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xây dựng dự thảo Đề án “Xây dựng thiết chế văn hoá, thể thao trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đến  2020 và định hướng đến năm 2025”. Theo chỉ tiêu Đề án đến năm 2020, toàn chỉnh có 100 % số huyện, thành phố có thiết chế Trung tâm Văn hoá - Thể thao đạt chuẩn quốc gia và 100% sân vận động cấp huyện; có 50% số xã, phường, thị trấn có thiết chế văn hoá, thể thao cơ sở đạt chuẩn quốc gia và 100% sân vận động cấp xã; có 70% số thôn, tổ dân phố có thiết chế văn hoá, thể thao cơ sở đạt chuẩn quốc gia; và 100% thôn, tổ dân phố có sân tập luyện thể dục thể thao.

Như vậy, nếu Đề án được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua, thì đến năm 2020, cơ bản thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở trên địa bàn tỉnh sẽ được xây dựng, đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt lành mạnh của đoàn viên thanh niên và nhân dân, góp phần vào sự phát triển về kinh tế - xã hội tỉnh nhà một cách toàn diện, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

b) Về việc cần quan tâm đầu tư các điểm Internet công cộng tại địa bàn nông thôn, miền núi để có nhiều cơ hội tiếp cận thông tin:

Theo quy định của pháp luật hiện hành, Sở Thông tin và Truyền thông là cơ quan quản lý nhà nước về công nghệ thông tin, do đó việc đầu tư các điểm Internet công cộng tại địa bàn nông thôn, miền núi thuộc thẩm quyền của Sở Thông tin và Truyền thông.

Hiện nay, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông triển khai Dự án “Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy cập internet công cộng tại Việt Nam”, theo đó đến năm 2014 sẽ có 13/14 thư viện huyện, thành phố được trang bị 10 máy tính/thư viện, có 05 máy tính/thư viện xã xây dựng nông thôn mới. Như vậy, Dự án sẽ phần nào tạo điều kiện cho cán bộ và nhân dân vùng nông thôn có điều kiện tiếp cận máy tính, truy cập sử dụng thông tin trên Internet. 

 

Ý kiến của bạn:
 
Đồng ý gửi     Gửi Nhập lại