Tham gia phát biểu về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đến năm 2035, đại biểu Huỳnh Thị Ánh Sương, Phó Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách tỉnh tán thành với chủ trương ban hành Nghị quyết Phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, thống nhất sự hợp nhất của 3 chương trình khắc phục tình trạng manh mún, phân tán nguồn lực, chồng chéo, trùng lắp giữa các chương trình này. Đại biểu cũng thống nhất mục tiêu chung và quan điểm tập trung ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, tập trung ưu tiên cho vùng khó khăn, lõi nghèo nhằm rút ngắn dần khoảng cách phát triển giữa các vùng, bảo đảm ổn định về an ninh, chính trị, đối ngoại ở vùng biên giới trọng yếu của đất nước. Tham gia vào mục tiêu (3) để đảm bảo đến năm 2030, phấn đấu 100% số xã nghèo trên cả nước thoát khỏi tình trạng nghèo; vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cơ bản không còn các xã, thôn đặc biệt khó khăn, đại biểu đề nghị cần nghiên cứu, xây dựng và ban hành chính sách riêng đối với nhóm hộ nghèo không có khả năng lao động. Hiện nay, tỷ lệ hộ nghèo thuộc nhóm người già yếu, khuyết tật, bệnh mãn tính, không nơi nương tựa,… chiếm khoảng 25 - 30% tổng số hộ nghèo tại nhiều tỉnh miền núi. Đây là nhóm không thể thoát nghèo dù có tăng cường hỗ trợ sinh kế. Việc đưa nhóm đối tượng này vào nhóm bảo trợ xã hội sẽ giúp mục tiêu giảm nghèo phản ánh đúng thực chất, đồng thời bảo đảm người không có khả năng lao động được hưởng chính sách an sinh phù hợp, ổn định và lâu dài hơn, nhằm từng bước nâng mức sống của các hộ này tiệm cận mức sống trung bình của cộng đồng.

Về xác định trọng tâm, trọng điểm đầu tư tại điểm a khoản 4 Điều 1 dự thảo đã nêu nguyên tắc “đầu tư có trọng tâm, trọng điểm”, tuy nhiên chưa cụ thể hóa rõ thứ tự ưu tiên theo vùng, nhóm đối tượng, vì vậy đại biểu đề nghị làm rõ ưu tiên đầu tư cho vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi có tỷ lệ nghèo cao, hạ tầng chưa đồng bộ, nhiều khó khăn, chi phí đầu tư lớn nhưng khả năng tự cân đối ngân sách rất hạn chế. Việc quy định xác định rõ vùng ưu tiên sẽ giúp phân bổ vốn trọng điểm hơn, minh bạch hơn, tránh dàn trải nguồn lực, tạo hiệu quả lan tỏa rõ ràng và là căn cứ để thực hiện hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả đầu tư.
Về giám sát cộng đồng và công khai tài chính tại điểm đ khoản 5 Điều 1 để bảo đảm công khai, minh bạch, đại biểu đề xuất bổ sung quy định yêu cầu công khai cụ thể danh mục, kinh phí và tiến độ dự án tại xã, thôn, như công khai trên cổng thông tin cấp xã, niêm yết tại nhà văn hóa thôn, đồng thời phát huy vai trò Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và người dân trong giám sát đầu tư công. Đại biểu cho rằng việc này vừa giúp tăng niềm tin của nhân dân, vừa giúp phát hiện sớm sai sót, sai phạm, ngăn ngừa tiêu cực, chống tham nhũng, lãng phí. Theo đại biểu, giám sát cộng đồng là một trong những yếu tố quan trọng, quyết định tính bền vững của chương trình.
Đại biểu cũng đề nghị cần nghiên cứu, ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới các cấp giai đoạn 2026–2035 và Quy định chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026–2035, nhằm tạo sự ổn định xuyên suốt trong toàn bộ giai đoạn 10 năm. Việc ban hành thống nhất cho giai đoạn 2026–2035 sẽ giúp các tỉnh, thành phố chủ động trong rà soát, đánh giá, lập kế hoạch, phân bổ nguồn lực và tổ chức thực hiện Chương trình, tránh phát sinh điều chỉnh lớn giữa các giai đoạn 5 năm. Đồng thời góp phần bảo đảm hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu đã đề ra cho cả giai đoạn 2026–2035 một cách đồng bộ và hiệu quả.
Về nguồn vốn ngân sách nhà nước giai đoạn 2026-2030 là 500.000 tỷ đồng trong đó vốn ngân sách trung ương 100.000 tỷ đồng (20%), vốn ngân sách địa phương 400.000 tỷ đồng (80%) là một thách thức lớn đối với các địa phương trong khi chương trình tập trung ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Vì vậy đại biểu đề nghị quy định tỷ lệ đối ứng phù hợp như đối với các địa phương chưa tự cân đối ngân sách và đang nhận hỗ trợ ngân sách Trung ương từ 70% trở lên thì tỷ lệ đối ứng kinh phí thấp hơn các địa phương còn lại hoặc không bắt buộc phải đối ứng kinh phí, đồng thời, đề nghị nguyên tắc phân bổ vốn ngân sách trung ương là Trung ương phân bổ giao cho các địa phương theo tổng nguồn vốn Chương trình để địa phương chủ động, quyết định, tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm.
Tham gia vào khoản 2 Điều 3 về Tổ chức thực hiện đại biểu đề nghị không quy định Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định phân bổ thống nhất lồng ghép các nguồn lực giữa các chương trình mục tiêu quốc gia trên cùng địa bàn, theo đại biểu chỉ cần quy định không trùng lặp đối tượng, không chồng chéo nội dung đầu tư là phù hợp, tránh tình trạng quy định lồng ghép nhưng không thực hiện được.

Tham gia phát biểu xây dựng hoàn thiện Nghị quyết Phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026–2035, đảm bảo tính khả thi và triển khai thực hiện hiệu quả, đại biểu Nàng Xô Vi cho rằng đối với mục tiêu (1) đến năm 2030 Thu nhập bình quân của người dân nông thôn năm 2030 phấn đấu tăng gấp 2,5-3 lần so với năm 2020. Trong đó, thu nhập bình quân của người DTTS bằng 2/3 bình quân chung của cả nước, thì việc đặt mục tiêu đạt 2/3 bình quân cả nước là một mục tiêu đầy thách thức, nhưng khả thi nếu có cơ chế mạnh mẽ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lao động và huy động doanh nghiệp tham gia; Đối với mục tiêu (2) đến năm 2030 Tỷ lệ nghèo đa chiều của cả nước duy trì mức giảm từ 1 đến 1,5%/năm, phấn đấu tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng DTTS và MN xuống dưới 10%; tỷ lệ nghèo đa chiều ở xã nghèo giảm ít nhất 3%/năm, thì đại biểu cho rằng đây là mục tiêu mang tính bản chất và cốt lõi, tuy nhiên, theo đại biểu để đạt được mục tiêu này việc hỗ trợ an sinh đơn thuần sẽ không đủ; điều quan trọng là tạo sinh kế bền vững, chuyển từ hỗ trợ sang trao cần câu, mở rộng việc làm phi nông nghiệp, phát triển kinh tế xanh, du lịch cộng đồng và nông nghiệp hàng hóa. Bên cạnh đó, phải giảm thiếu hụt dịch vụ giáo dục và y tế, bảo đảm 100% người dân tộc thiểu số, người nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có bảo hiểm y tế và được tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản miễn phí; đồng thời đại biểu đề nghị Chính phủ rà soát, thống nhất cách quy định chỉ tiêu này trong các văn bản của Chương trình. Nếu không giải quyết thiếu hụt về giáo dục, y tế và hạ tầng, thì người dân vẫn sẽ mãi quay lại tái nghèo; Đối với mục tiêu (3) đến năm 2030 Phấn đấu 100% số xã nghèo trên cả nước thoát khỏi tình trạng nghèo; vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cơ bản không còn các xã, thôn đặc biệt khó khăn, theo đại biểu đây là mục tiêu đi trực diện vào những điểm nghẽn lớn nhất, những “vùng lõm” phát triển. Các xã nghèo và thôn đặc biệt khó khăn thường là nơi hạ tầng thiếu, dân cư phân tán, điều kiện tiếp cận dịch vụ công hạn chế, và dễ bị tổn thương bởi thiên tai, biến đổi khí hậu. Đây là mục tiêu rất cao, bởi nhiều xã nghèo gắn với yếu tố lịch sử, vị trí địa lý hiểm trở và điều kiện tự nhiên bất lợi. Do đó, cần đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên hạ tầng thiết yếu như đường giao thông, nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế, internet thay vì đầu tư dàn trải, manh mún. Chương trình đã đề cập nguyên tắc đầu tư trọng tâm, trọng điểm, hướng tới hiệu quả bền vững, và hoàn toàn đúng đắn, và từ những vấn đề ở trên, đại biểu đề xuất những giải pháp để góp phần hoàn thiện nghị quyết như đầu tư có trọng điểm, tập trung hạ tầng thiết yếu tại những xã, thôn đặc biệt khó khăn nhất là ưu tiên nguồn lực cho giáo dục – y tế – hạ tầng số, vì đây là nhân tố quyết định giảm nghèo bền vững; xây dựng công cụ giám sát độc lập, minh bạch, chuyển đổi số trong quản trị để tránh thoát nghèo trên giấy; phát huy vai trò chủ thể của người dân, giao cộng đồng quyền giám sát và cùng tham gia./.